Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1034/2024/HSPT

Ngày 01 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Tám
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Duyên
Ông Vũ Đức Toàn

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Danh Quốc Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 723/2024/HS-ST ngày 07/8/202024 đối với bị cáo Võ Anh H

Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 314/2024/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo: Võ Anh H, (Tên gọi khác: Vũ Anh L; Võ Anh T; Nguyễn Văn T1), sinh ngày 30 tháng 6 năm 1972 tại Khánh Hòa. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ học vấn: 02/12; cha là Võ Ngọc C, sinh năm 1936 (chết) và mẹ là Trần Thị G, sinh năm 1935 (chết); tiền án, tiền sự: không; Có vợ tên Nguyễn Thị Bích L1, sinh năm 1970 và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 1998; Năm 2015, chung sống như vợ chồng với bà Bùi Thị H1; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 05/4/2018 đến nay, (có mặt).

- Người bào chữa theo chỉ định cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Hồng N, Đoàn Luật sư Thành phố H, (có mặt).

- Bị hại: Ông Trần Việt L2, sinh năm 1970. ( tử vong ngày 03/12/2017)

Người đại diện hợp pháp:

  1. Mai Thị N1, sinh năm 1969 là vợ bị hại.
  2. Trần Văn C1, sinh năm 1991 là con bị hại.
  3. Trần Thị Ni N2, sinh năm 1993 là con bị hại.
  4. Trần Văn D, sinh năm 1995 là con bị hại.
  5. Trần Văn H2, sinh năm 2005 là con bị hại.

Cùng địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên, (Vắng mặt).

(Trong vụ án còn có nhiều người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Toà án không triệu tập)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng năm 2015, Võ A H sinh ngày 30/6/1972 có tên gọi khác là Võ Anh T, Nguyễn Văn T1 cùng chị Bùi Thị H3 là người sống chung như vợ chồng với H xin vào làm phụ hồ tại công trình xây dựng cạnh nhà số B P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, còn anh Trần Việt L2 là công nhân thi công tại công trình cạnh nhà số H Đường số E, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Vì hai công trình này chỉ cách nhau khoảng 30m và đều do anh Nguyễn Bảo T2 làm chủ thầu, nên hàng ngày H và anh L2 thường xuyên tụ tập, uống rượu với nhau.

Khoảng 19h ngày 01/12/2017, trong lúc đang uống rượu thì anh L2 nói H: “Mầy không có chứng minh nhân dân, sẽ báo chủ thầu kêu Công an đến bắt”, dẫn đến hai bên cự cãi nhau và H đã bỏ về lán trại của mình lấy 01 con dao dài khoảng 40 cm quay lại chém anh L2, nhưng được mọi người can ngăn nên H về ngủ. Đến ngày 02/12/2017, H mua rượu về uống và khoảng 17 giờ cùng ngày thì H nhờ chị Bùi Thị H3 gọi vợ chồng anh Huỳnh Quang Đ và chị Nguyễn Thị Mỹ C2 là công nhân ở chung lán trại với anh Trần Việt L2 đến gặp H. Khi vợ chồng anh Đ đến thì H nói: “Vợ chồng mày và ông O tối nay tìm chỗ khác ngủ, tao uống hết chai rượu này sẽ cầm dao qua chém L2, trúng tụi mày ráng chịu”. Anh Đ về nói lại với anh L2 và anh Nguyễn Xuân O biết, nhưng anh L2 và anh O không đi chỗ khác ngủ, chỉ có vợ chồng anh Đ đi sang chỗ khác ngủ.

Khoảng 21h ngày 02/12/2017, H nảy sinh ý định mua xăng về đốt lán trại nơi anh L2 ngủ nên đã đi mua 01 chiếc can nhựa, rồi đến cây xăng dầu số 8 trên đường P mua 05 lít xăng đem về để trong lán trại. Khoảng 03h30' ngày 03/12/2017 thì H lấy can xăng và 01 nón bảo hộ lao động bằng nhựa đến lán trại nơi anh L2 ngủ để đốt. Lúc này trong lán có anh L2 và anh O đang ngủ, H đổ xăng vào đầy nón bảo hộ, rồi tạt xăng vào bên trong lán trại, sau đó dùng bật lửa đốt cháy vỏ bao thuốc lá rồi vứt cả bật lửa và vỏ bao thuốc lá đang cháy vào nơi vừa tạt xăng, khi thấy lán trại bốc cháy thì H chạy ra đường đón xe bỏ trốn. Lúc này chị Nguyễn Thị Mỹ C2 đang ngủ trong công trình gần hiện trường thức dậy, thấy lán thấy lán trại nơi anh Trần Việt L2 và anh Nguyễn Xuân O đang nằm ngủ có lửa cháy và thấy anh Nguyễn Xuân O chạy ra đường hô hoán và dùng tay dập lửa đang cháy trên người mình, nên chị kêu anh Huỳnh Quang Đ dậy, rồi cùng chạy xuống lán trại thì thấy anh Trần Việt L2 toàn thân đang bốc cháy, lăn lộn từ trên lán xuống đất. Lúc này người dân ở gần xung quanh lán trại đã dùng bình chữa cháy xịt vào người anh Trần Việt L2 để dập tắt lửa, rồi đưa anh Trần Việt L2 và anh Nguyễn Xuân O đến Bệnh viện C3 để cấp cứu. Đến khoảng 09 giờ 10 phút cùng ngày thì anh Trần Việt L2 tử vong, còn anh Nguyễn Xuân O được xuất viện do chỉ bỏng nhẹ.

Sau khi xảy ra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, trưng cầu giám định pháp y và tiến hành điều tra thu thập chứng cứ để làm rõ sự việc.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường vụ án xảy ra là lán trại cạnh nhà số H Đường E, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại hiện trường phát hiện nhiều vật dụng sinh hoạt đã bị cháy xém một phần, trên sàn gỗ sát tường phải và cách tường trước 3,5 m là vị trí gồm: bếp than có kích thước 21,5 x 16 cm, bên trong bếp phát hiện một mảnh vải đã bị cháy đen phủ bên trên than củi. Vỉ nướng làm bằng kim loại, kích thước 24cm x 31cm và 01 búa có cán dài 30cm, đầu kim loại rộng 11cm và nhiều hũ nhựa, gạch ống bị cháy đen; Trên sàn gỗ cách tường trái 1,4m và cách tường trước 2,3m phát hiện 01 vết màu đỏ kích thước 1,1cm x 53cm (nghi máu). Dưới nền đất cách tường trái 0,8m và cách tường trước 2,4m phát hiện 01 vết màu đỏ kích thước 70cm x 100cm (nghi máu). Khu vực còn lại, phát hiện đồ đạc và nhiều đồ dùng sinh hoạt như quần áo, giấy tờ... bị cháy xém, xáo trộn do việc dập tắt lửa của người dân xung quanh.

Kết quả khám nghiệm tử thi Trần Việt L2 xác định: Tổ chức da bị cháy bỏng toàn thân 100%; khô và teo đét; tại môi dưới, hai bàn tay, hai bàn chân và vùng bìu lộ rõ lớp hạ bì. Toàn thân bên ngoài không phát hiện thấy dấu vết thương tích gì khác. Tổ chức dưới da, cơ và hệ thống xương sụn toàn thân không tổn thương. Khí quản sung huyết, chứa ít dịch nhầy và chất bẩn màu đen, hai phổi phù, sung huyết. Mặt cắt nhu mô hai phổi trào nhiều dịch màu đỏ đậm; nhu mô phổi không dập rách; não phù, sung huyết, nhu mô não không dập rách. Cơ tim chắc, sung huyết, không tổn thương. Gan, lách, thận và các tạng khác bên trong không tổn thương. Dạ dày chứa ít dịch loãng đục không rõ loại và bám nhiều chất bẩn màu đen. Niêm mạc dạ dày sung huyết.

Tại bản Kết luận giám định số 51-18/KLGĐ-PY ngày 18/01/2018 của Phòng K1, Công an Thành phố H kết luận: Nguyên nhân anh Trần Việt L2 chết là do bị cháy bỏng da toàn thân.

Anh Nguyễn Xuân O bị thương tích nhẹ, anh O từ chối giám định và không yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe.

Sau khi gây án, Võ A H đã bỏ trốn và sống lang thang tại khu Đ, tỉnh Ninh Thuận khoảng một tuần rồi về nhà ông Võ Anh Đ1 là anh ruột của H tại Khánh Hòa ở mấy ngày và sau đó lại đến nhà bà Lò Thị H4 là em họ của H tại tỉnh Đồng Nai ở khoảng một tháng. Đến tháng 02 năm 2018 thì H đến thuê trọ ở nhà ông Bùi Thanh M tại Hẻm F, Khu phố E, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Khoảng đầu tháng 3 năm 2018 thì H đến huyện M, tỉnh Đắk Lắk và tại đây H điện thoại cho chị Bùi Thị H5 là em gái chị H3, yêu cầu chị H5 báo cho chị Bùi Thị H3 phải đến ở cùng H và nói nếu chị H3 không đến ở cùng thì H sẽ giết cả gia đình chị H3. Sau khi nghe chị H5 kể lại thì chị H3 lo sợ nên đã đến gặp H tại khu vực đèo P và cùng với H đến thuê phòng trọ của ông Bùi Thanh M tại M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận để ở. Đến ngày 04/4/2018 thì H bị tai nạn giao thông và được đưa vào điều trị ở Bệnh viện M1 điều trị. Tại đây H đã điện thoại báo cho chị H5 biết và bắt chị H5 phải báo cho chị H3 mang tiền đến trả viện phí, nên chị H5 đã trình báo cho Công an quận G, Thành phố Hồ Chí Minh biết để bắt giữ H.

Trên cơ sở kết quả điều tra ban đầu xác định: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội giết người thì Võ A Huệ có tên thường gọi là Võ Anh T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã quyết định khởi tố bị can đối Võ Anh Huệ, với họ tên là Võ Anh T. Khi tiến hành xác minh nhân thân, quan hệ gia đình (bố đẻ, anh chị em ruột) thì Cơ quan điều tra thu giữ Sổ hộ khẩu của gia đình H, thấy trong hộ khẩu không ai có họ tên là Võ A Tân mà chỉ có Võ A Lang nên ngày 24/9/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can từ Võ Anh T sang Võ Anh L3, có địa chỉ tại khu phố H, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.

Kết thúc điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đề nghị Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố đối với Võ Anh H, với họ và tên là Võ Anh L3.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 490/2018/HS-ST ngày 28/11/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và bản án hình sự phúc thẩm số 267/2019/HSPT ngày 17/5/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã xác định Võ A Huệ có họ tên là Võ Anh L3 và tuyên phạt Võ Anh L3 mức án tử hình về tội “Giết người”.

Ngày 15/6/2023, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ban hành Quyết định số 03/2023/HS-GĐT nội dung nhận định: Võ Anh L3, Võ Anh H là anh em song sinh cùng ngày 30/6/1972 và là hai người khác nhau. Nhưng Võ Anh L3 lại khai khi đi học tiểu học thì L3 có tên là Võ Anh H; anh Đ1 và chị T5 cũng khai Võ A Lang chính là Võ Anh H, tên thường gọi là Võ Anh T (như đã nêu trên). Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa làm rõ, xác định chính xác những đặc điểm quan trọng về nhân thân của bị can, bị cáo (họ, tên tuổi anh chị em, vợ, con, địa chỉ thường trú...) làm cho lý lịch, nhân thân của bị can, bị cáo có sự khác nhau cơ bản so với lý lịch đã được xác định trong kết luận điều tra, cáo trạng, bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm. Từ đó dẫn đến việc truy tố, xét xử và kết án đối với Võ Anh L3 không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án, ảnh hưởng đến tính chính xác khi xác định nhân thân của bị can, bị cáo...”. Do đó, Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao đã hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, phúc thẩm để điều tra lại theo quy định pháp luật.

Trong giai đoạn điều tra lại vụ án thì bị cáo đã khai nhận: Họ tên thật của bị cáo là Võ Anh H, sinh ngày 30/6/1972, quê quán tại khu phố H, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa, có cha mẹ đẻ là ông Võ Ngọc C và bà Trần Thị G; gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là con thứ tư; vợ của bị cáo là Nguyễn Thị Bích L1, sinh năm 1970 và có 03 con, đứa lớn nhất sinh năm 1993, đứa nhỏ nhất sinh năm 1998. Khi còn nhỏ tên thường gọi là Võ Anh T, đến năm 1989 thì bị cáo đến huyện S, tỉnh Phú Yên sinh sống và lấy tên là Nguyễn Văn T1, sinh năm 1969, có cha là Nguyễn Văn T3 và mẹ đẻ là Trần Thị G. Sau khi lấy vợ là chị Nguyễn Thị Bích L1 thì bị cáo chuyển đăng ký hộ khẩu thường trú đến tại khu phố T, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Từ năm 2010, bị cáo bỏ nhà đi nơi khác làm ăn sinh sống và đã lấy tên thường gọi là Nguyễn Văn T1. Trong giai đoạn điều tra ban đầu, bị cáo khai tên là Võ Anh L3 vì nghĩ mình đã phạm tội nên nhận tên gì cũng được để vụ án sớm kết thúc.

Theo lời khai anh Võ Anh K, Võ Anh T4, Võ A Đ1 và chị Võ Thị Ánh T5 là anh em ruột của bị cáo và theo ông Trần B là người hàng xóm ở cạnh nhà của bị cáo xác định: Lúc còn nhỏ, Võ A Huệ có tên thường gọi là Võ Anh T, gia đình không có anh em sinh đôi và không người nào có tên là Võ Anh L3. Lý do có tên Võ Anh L3 trong các giấy tờ là vì ông Võ Ngọc C là cha của bị cáo là thương phế binh, tự kê khai thêm nhân khẩu để được hưởng thêm chế độ.

Tổ chức cho các anh chị Võ Anh K, Võ Anh T4, Võ Anh Đ1 và chị Võ Thị Ánh T5 nhận dạng thì tất cả đều nhận dạng được và xác định bị cáo có tên là Võ Anh H.

Theo chị Nguyễn Thị Bích L1 là vợ bị cáo, Nguyễn Thị Thúy V, Nguyễn Thế T6 và Nguyễn Anh T7 là các con của bị cáo khai chỉ biết chồng, cha mình có tên là Nguyễn Văn T1, không biết tên thật là Võ Anh H.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 314/2024/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Căn cứ vào điểm 1, n khoản 1 Điều 93 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt Võ Anh H (Tên gọi khác: Võ Anh T, Nguyễn Văn T1) tử hình, về tội “Giết người”.

Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định

Ngày 04/7/2024, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo giữ nguyên đơn kháng cáo xin giảm án, do bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm như sau: Chỉ vì một mâu thuẫn nhỏ với người bị hại, bị cáo đã thực hiện hành vi mua xăng về giết bị hại. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có sự chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, vì vậy mức hình phạt mà tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng là phù hợp.

Đề nghị không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo có quan điểm cho rằng: Mâu thuẫn giữa bị cáo và bị hại là không nhỏ, bị cáo bị kích động kéo dài, bị cáo là người lao động nên lời đe dọa của bị hại có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và công việc của bị cáo. Bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, đã nhận ra hành vi phạm tội. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra năm 2018 đến năm tháng 03 năm 2024, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án điều xác định bị cáo có tên là Võ Anh L3 nên cần bổ sung vào bản án bị cáo Võ Anh H có tên gọi khác là Võ Anh L3, cũng như cần bổ sung vợ con bị cáo, người chung sống như vợ chồng với bị cáo vào bản án phúc thẩm cho phù hợp lý lịch bị cáo.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Võ Anh H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm, từ đó có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 19h ngày 01/12/2017, trong lúc đang uống rượu thì bị hại Trần Việt L2 và bị cáo có phát sinh mâu thuẫn do bị hại có hăm dọa tố cáo bị cáo không có giấy chứng minh nhân dân dẫn đến hai bên cự cãi nhau và bị cáo đã bỏ về lán trại của của mình lấy 01 con dao dài khoảng 40 cm quay lại định chém bị hại, nhưng được mọi người can ngăn nên bị cáo về ngủ. Đến ngày 02/12/2017, bị cáo mua rượu về uống và khoảng 17 giờ cùng ngày bị cáo nhờ chị Bùi Thị H3 gọi vợ chồng anh Huỳnh Quang Đ và chị Nguyễn Thị Mỹ C2 là công nhân ở chung lán trại với bị hại đến gặp bị cáo. Khi vợ chồng anh Đ đến thì bị cáo nói vợ chồng anh Đ đi nơi khác ngủ vì đêm nay bị cáo sẽ chém bị hại. Anh Đ về nói lại với bị hại và anh Nguyễn Xuân O biết, nhưng bị hại và anh O không đi chỗ khác ngủ, chỉ có vợ chồng anh Đ đi sang chỗ khác ngủ. Khoảng 21h ngày 02/12/2017, H nảy sinh ý định mua xăng về đốt lán trại nơi anh L2 ngủ nên đã đi mua 01 chiếc can nhựa, rồi đến cây xăng dầu số 8 trên đường P mua 05 lít xăng đem về để trong lán trại. Khoảng 03h30' ngày 03/12/2017, bị cáo lấy can xăng và 01 nón bảo hộ lao động bằng nhựa đến lán trại nơi bị hại đang ngủ để đốt. Lúc này trong lán có bị cáo và anh O đang ngủ, bị cáo đổ xăng vào đầy nón bảo hộ, rồi tạt xăng vào bên trong lán trại, sau đó dùng bật lửa đốt cháy vỏ bao thuốc lá rồi vứt cả bật lửa và vỏ bao thuốc lá đang cháy vào nơi vừa tạt xăng, khi thấy lán trại bốc cháy bị cáo chạy ra đường đón xe bỏ trốn. Lúc này chị Nguyễn Thị Mỹ C2 đang ngủ trong công trình gần hiện trường thức dậy, thấy lán thấy lán trại nơi bị hại và anh Nguyễn Xuân O đang nằm ngủ có lửa cháy và thấy anh Nguyễn Xuân O chạy ra đường hô hoán và dùng tay dập lửa đang cháy trên người mình, nên chị kêu anh Huỳnh Quang Đ dậy, rồi cùng chạy xuống lán trại thì thấy bị hại toàn thân đang bốc cháy, lăn lộn từ trên lán xuống đất. Lúc này người dân ở gần xung quanh lán trại đã dùng bình chữa cháy xịt vào người bị hại để dập tắt lửa, rồi đưa bị hại và anh Nguyễn Xuân O đến Bệnh viện C3 để cấp cứu. Đến khoảng 09 giờ 10 phút cùng ngày bị hại tử vong, còn anh Nguyễn Xuân O được xuất viện do chỉ bỏng nhẹ. Sau khi thực hiện hành vi đốt bị hại nêu trên, bị cáo đã bỏ trốn về tỉnh Khánh Hòa và bị bắt giữ. Hành vi dùng xăng bặt vào láng trại nới bị hại và anh O đang ngủ hậu quả làm cho bị hại bị tử vong do bị bỏng toàn thân do bị cáo thực hiện nêu trên có đủ yếu tố cấu thành tội giết người nên Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo về tội “Giết người” với tình tiết định khung “phạm tội mang tính côn đồ” và “ bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người” theo quy định tại điểm 1, n khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét kháng cáo yêu cầu được giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, không những tước đi quyền sống của bị hại một cách trái pháp luật, gây đau thương và mất mát lớn không thể bù đắp đối với gia đình bị hại mà còn gây bất bình trong dư luận, ảnh hưởng đến trật tự, trị an tại địa phương. Sau khi thực hiện hành phi phạm tội, bị cáo bỏ trốn trách khỏi hiện trường, di chuyển đến nhiều nơi cư trú khác nhau, khai không đúng họ tên, địa chỉ, vợ con thực sự làm cản trở và gây khó khăn cho hoạt động điều tra, quá trình điều tra cho đến nay bị cáo chưa bồi thường về bồi thường thiệt hại cho phía gia đình người bị hại. Bản án sơ thẩm đã đánh giá toàn diện vụ án, đánh giá nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đầy đủ cho bị cáo và xử phạt bị cáo hình phạt cao nhất của điều luật là Tử hình là có căn cứ, tương xứng và đảm bảo được tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Bị cáo kháng cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt nhưng không đưa ra được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào khác để chứng minh, vì vậy không có cơ sở để chấp nhận nên cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

[4] Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo luật định.

[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị nên không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Võ Anh H về việc xin giảm nhẹ hình phạt. Giữ nguyên quyết định của bản án số 314/2024/HSST ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

1. Tuyên bố: Bị cáo Võ Anh H (tên gọi khác Võ Anh L3; Võ Anh T, Nguyễn Văn T1), phạm tội “Giết người”.

2. Áp dụng điểm 1, n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Võ Anh H, (tên gọi khác: Võ Anh L3; Võ Anh T, Nguyễn Văn T1), hình phạt Tử hình. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Trong thời hạn 07 (bảy) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được gửi đơn lên Chủ tịch N3 để xin ân giảm.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự, Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Võ Anh H, phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ I - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND Cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Công an Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Cục THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Trại tạm giam Công an TPHCM
  • (và để tống đạt cho bị cáo);
  • - Lưu: VP, HS

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Văn Tám

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1034/2024/HSPT ngày 01/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 1034/2024/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 01/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Anh H phạm tội giết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger