Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1031/2023/HS-PT

Ngày 05 - 12 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Quốc Trí
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Nhật Tân
Ông Nguyễn Thanh Nhã.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thơm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 703/2023/TLPT-HS ngày 03 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Vũ Thị P, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 76/2023/HSST ngày 21/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín.

Bị cáo có kháng cáo Vũ Thị P, sinh năm: 1983; đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn A, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương; chỗ ở: thôn B, xã D, huyện T, Thành phố Hà Nội; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Vũ Đức Đ và bà Nguyễn Thị Q; chồng: Trịnh Văn T; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; bị cáo tại ngoại, có mặt.

Ngoài ra, trong bản án còn có bị hại không kháng cáo, không bị kháng nghị, tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2013, ông Nguyễn Viết T1 biết Vũ Thị P đang công tác tại Công ty TNHH một thành viên N2 nên đã liên hệ và nhờ P xin cho con trai của mình là anh Nguyễn Viết T2 vào làm việc tại Công ty TNHH một thành viên N2. Mặc dù, bản thân chỉ là nhân viên ghi thu tiền nước, không có chức năng tuyển dụng việc làm nhưng P vẫn nhận lời và nói với ông T1 là có quen biết nhiều người tại Công ty TNHH một thành viên N2 và có khả năng xin cho anh T2 vào làm việc tại Công ty. P đã hứa hẹn với ông T1 trong thời gian 01 năm sẽ có quyết định biên chế cho anh T2 đi làm, đồng thời P thỏa thuận với ông T1 số tiền xin việc làm cho anh T2 là 200.000.000 đồng. Do tin tưởng P hứa hẹn nên trong năm 2013, ông T1 đã đưa cho P số tiền 150.000.000 đồng cùng 01 bộ hồ sơ xin việc của anh T2 và hẹn khi nào anh T2 đi làm sẽ chuyển nốt số tiền 50.000.000 đồng cho P.

Đến năm 2015, ông T1 gặp Vũ Thị P hỏi về vấn đề xin việc cho anh T2 thì P nói dối là đang gặp khó khăn cần phải đưa thêm tiền thì mới xong việc. Do vậy, ông T1 đã đưa tiếp cho P số tiền 90.000.000 đồng và P tiếp tục hứa hẹn trong vòng 01 tháng sẽ có quyết định cho anh T2 đi làm ngay. P sử dụng số tiền 90.000.000 đồng để xin việc cho anh Vũ Việt H là em trai P thông qua Nguyễn Đức L, sinh năm 1960 ở K, T, Đ, Hà Nội là đội trưởng đội quản lý nước sạch quận H để nhờ xin việc cho anh H, sau này do không xin được việc cho anh H thì anh Nguyễn Đức L đã trả tiền cho Vũ Thị P. Đến năm 2018 P vẫn không xin được việc làm cho anh T2 nên ông T1 nhiều lần đến nhà P đòi tiền P không trả nên yêu cầu P viết giấy biên nhận khất trả nợ, cụ thể:

  • - 01 Giấy biên nhận đề ngày 10/5/2018. Nội dung “Tôi có nhận hồ sơ và tiền của gia đình chú T1 để xin việc cho con trai là Nguyễn Viết T2 với số tiền là 245.000.000 đồng”.
  • - 01 Giấy cam kết đề ngày 17/02/2019 (âm lịch). Nội dung “Vũ Thị P cam kết ngày 15/3/2019 (âm lịch) trả chú T1 100.000.000 đồng và từ tháng 4/2019 trả hàng tháng là 10.000.000 đồng”.
  • - 01 Giấy viết tay đề ngày 3/11/2020. Nội dung “Tên tôi là Vũ Thị P có nhận tiền xin việc cho chú T1 tổng là 240.000.000 đồng. Lần này tôi lên, tôi khất cô chú đến tết âm lịch sẽ trả đủ”.
  • - 01 Giấy đề ngày 25/12/2020. Nội dung “Cháu Vũ Thị P có hẹn trả chú T1 số tiền 230.000.000 đồng”.

Ngày 06/7/2021, ông Nguyễn Viết T1 đã tự nguyện nộp cho Cơ quan Điều tra 04 giấy nhận nợ và hẹn trả nợ nêu trên do Vũ Thị P tự viết.

Ngày 14/7/2021, Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an huyện T ra quyết định trưng cầu giám định chữ viết và chữ ký tại 04 tờ giấy nêu trên.

Tại bản kết luận giám định số 6384/KLGĐ-PC09-Đ3 ngày 23/8/2021 của Phòng K - Công an Thành phố H, đối với chữ viết, chữ ký trong 01 tài liệu có nội dung “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam... tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm” đứng tên Vũ Thị P, đề ngày 25/12/2020 (ký hiệu A1); 01 “giấy viết tay” đứng tên Vũ Thị P, đề ngày 17/2/1019 (âm) (ký hiệu A2); 01 “giấy viết tay” đứng tên Vũ Thị P, đề ngày 3/11/2020 (ký hiệu A3); 01 “giấy biên nhận” đứng tên Vũ Thị P, đề ngày 10/5/2018 (ký hiệu A4). Kết luận:

  • - Chữ viết phần nội dung và chữ ký dạng viết “P”, chữ viết dòng họ tên Vũ Thị P dưới chữ ký trên các mẫu cần giám định (ký hiệu A1, A2) với chữ viết đứng tên Vũ Thị P trên mẫu so sánh (ký hiệu M1) và chữ viết dòng họ tên Vũ Thị P dưới chữ ký trên mẫu so sánh (ký hiệu M2) là chữ do cùng một người viết ra.
  • - Chữ viết, chữ ký đứng tên Vũ Thị P trên các mẫu cần giám định (ký hiệu A3, A4) với chữ viết, chữ ký đứng tên Vũ Thị P trên các mẫu so sánh (ký hiệu M1, M2) là chữ do cùng một người viết và ký ra.

Xác minh tại Công ty TNHH một thành viên N2, xác định được: Ngày 17/5/2012, Vũ Thị P đã bị chấm dứt hợp đồng lao động tại công ty. Khi còn làm việc tại Công ty TNHH một thành viên N2, P chỉ làm công nhân ghi thu tiền nước, không có chức năng tuyển dụng lao động. Trong thời gian từ năm 2013 đến năm 2015, Công ty không tiếp nhận hồ sơ xin việc nào có tên Nguyễn Viết T2, sinh năm 1991; trú tại: thôn B, xã D, huyện T, Hà Nội. Công ty TNHH một thành viên N2 hoạt động kinh doanh tự chủ, không sử dụng kinh phí từ nguồn ngân sách. Lao động trong Công ty là lao động ký hợp đồng theo nhu cầu sản xuất, kinh doanh và kế hoạch sử dụng lao động của Công ty, không thu bất kỳ một khoản kinh phí nào khi ký kết hợp đồng lao động.

Tại cơ quan điều tra Vũ Thị P khai năm 2013 sau khi nhận 150.000.000 đồng của ông Nguyễn Viết T1 để xin việc cho anh Nguyễn Viết T2 thì Vũ Thị P nhờ chị Bùi Thị N cùng làm tại công ty xin việc cho T2 đồng thời P đưa cho chị N 130.000.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã lấy lời khai và đối chất giữa chị Bùi Thị N với Vũ Thị P, chị N không thừa nhận việc đã nhận tiền để xin việc cho anh T2 như Vũ Thị P khai.

Tại Cơ quan điều tra bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.

Tại bản cáo trạng số: 62/CT-VKSTT ngày 31/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín truy tố bị cáo Vũ Thị P về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 139 Bộ luật Hình sự 1999 (nay là điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự).

Tại bản án số: 76/2023/HSST ngày 21/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín đã xử: Tuyên bố bị cáo Vũ Thị P phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 139; điểm b, p khoản 1, khoản 1 Điều 46; Điều 47; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999 (điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự), xử phạt Vũ Thị P: 42 tháng tù. Bản án còn quyết định xử lý vật chứng; án phí.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Vũ Thị P kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin hưởng án treo và khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã quy kết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa, sau khi xem xét kháng cáo của bị cáo, đề nghị: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giảm cho bị cáo một phần hình phạt, xử phạt bị cáo 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 05 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về chủ thể kháng cáo, nộp trong thời hạn luật định nên được giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.

[2]. Về nội dung: Theo lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, cũng như tại phiên tòa phúc thẩm và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Vũ Thị P do hám lợi nên mặc dù không có chức năng, nhiệm vụ liên quan đến công tác tuyển dụng lao động vào làm việc tại Công ty TNHH một thành viên N2, nhưng P có hành vi gian dối, nhận mình có khả năng xin việc cho anh N1 Viết T2 vào làm biên chế tại Công ty TNHH một thành viên N2, đồng thời nhiều lần hứa hẹn và chiếm đoạt của ông Nguyễn Viết T1 là bố anh T2 từ năm 2013 đến năm 2015 với tổng số tiền 240.00.000 đồng, số tiền này P sử dụng vào mục đích cá nhân.

Xét kháng cáo của bị cáo Vũ Thị P, Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; đã trả lại toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho bị hại, bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự; bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi; gia đình khó khăn, phạm tội lần đầu, xử phạt bị cáo 42 tháng tù là có căn cứ.

Tuy nhiên, năm 2013 bị cáo P đã chiếm đoạt của ông T1 150.000.000 đồng. Đến năm 2015, bị cáo lại chiếm đoạt của ông T1 90.000.000 đồng. Như vậy, bị cáo phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự này với bị cáo là thiếu sót. Nhưng theo nguyên tắc không làm xấu đi tình trạng của người kháng cáo nên Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết này đối với bị cáo.

Mặc dù vậy, Hội đồng xét xử cũng xét số tiền bị cáo chiếm đoạt chỉ trên mức khởi điểm của khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự và bị cáo đã trả lại hết số tiền chiếm đoạt cho bị hại và bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, hoàn cảnh gia đình khó khăn; có chú ruột (ông Vũ Bá L1) là liệt sỹ nên để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và giúp bị cáo yên tâm cải tạo, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Vũ Thị P, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số: 76/2023/HSST ngày 21/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội.

Tuyên bố: Vũ Thị P phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 139; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999 (điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015), xử phạt: Vũ Thị P 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Vũ Thị P không phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKS TP. Hà Nội;
  • - Công an, VKS, Tòa án, Chi cục THADS huyện Thường Tín;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

ĐINH QUỐC TRÍ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1031/2023/HS-PT ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 1031/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị P - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger