Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1031/2025/DS-ST

Ngày: 20/6/2025.

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Võ Văn Lợi
  • 2/ Ông Trần Đăng Vạn

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Luân, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Ngọc Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 2923/2024/TLST-DS ngày 18 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5614/2025/QÐST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5686/2025/QÐST-DS ngày 16 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng N.

Địa chỉ trụ sở: Số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1980.

Địa chỉ: số E L, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Văn bản ủy quyền số 1350/NHNo-ĐSG ngày 28/6/2024).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân B, sinh năm 1994.

Địa chỉ thường trú: tổ A, ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Địa chỉ chỗ ở: 480/37/8 B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 6 năm 2024 của nguyên đơn Ngân hàng N có ông Nguyễn Hoàng H là đại diện ủy quyền trình bày:

Ngân hàng N –Chi nhánh Đ - Phòng G (viết tắt là Ngân hàng N) cho ông Nguyễn Xuân B vay tiền theo Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202001088 ngày 16/7/2020, phục lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ trả nợ do ông Nguyễn Xuân B ký với số tiền vay: 1.900.000.000 đồng, mục đích vay bù đắp tài chính mua đất ở xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, ngày nhận nợ tiền vay 20/7/2020, thời hạn vay là 240 tháng (từ ngày 20/7/2020 đến ngày 20/7/2040), ngày nhận tiền vay lần đầu là ngày 20/7/2020, lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng là 9.5%/năm. Lãi suất này được điều chỉnh định ký tối thiểu 03tháng/lần (vào các ngày 05/01, 05/04, 05/07, 05/10 hàng năm) phù hợp với quy định hiện hành của Ngân hàng N, lãi suất nợ quá hạn tối đa bằng 150%/năm so với lãi suất vay đã thỏa thuận, lãi suất chậm trả 10%/năm, phương thức trả tiền vay định kỳ hàng tháng vào ngày 20 với số tiền 7.750.000 đồng và trả tiền lãi cùng kỳ trả gốc. Tại thời điểm vay ông Nguyễn Xuân B chưa đăng ký kết hôn theo giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 48/UBND-XNTTHN ngày 15/5/2020 của Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Để đảm bảo cho khoản vay trên, ngày 16/7/2020, ông Nguyễn Xuân B ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6280-LCP-202001069 thế chấp quyền sử dụng đất diện tích 151.4m², thuộc thửa 520 tờ bản đồ số 17 xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 657080 do Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16/12/2010, cập nhật thay đổi ngày 16/7/2020 cho ông Nguyễn Xuân B. Đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 17/7/2020 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, từ khi giải ngân cho đến ngày 20/11/2021 ông Nguyễn Xuân B đã trả được số tiền nợ gốc là 124.000.000 đồng và tiền lãi đã trả đến ngày 20/7/2021 được 176.883.337 cho đến nay ông Nguyễn Xuân B không thanh toán tiền lãi nợ gốc và tiền lãi cho Ngân hàng N. Do ông Nguyễn Xuân B đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên Ngân hàng đã có thông báo chuyển toàn bộ dư nợ gốc còn lại 1.776.000.000 đồng thành nợ quá hạn tính từ ngày 21/12/2022 và khởi kiện yêu cầu buộc ông Nguyễn Xuân B thanh toán số tiền nợ tính đến hết ngày 20/6/2025, tiền nợ gốc: 1.776.000.000 đồng, và tiền lãi gồm: lãi trong hạn từ ngày 21/7/2021 đến ngày 20/6/2025 là 687.119.947 đồng, lãi quá hạn từ ngày 21/12/2022 đến ngày 20/6/2025 là 28.126.852 đồng, tổng cộng tiền nợ gốc và lãi là 2.491.246.799 đồng theo bảng tính lãi ngày 20/6/2025 của Ngân hàng N và ông Nguyễn Xuân B phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng giữa đôi bên kể từ ngày 21/6/2025 cho đến khi thanh toán xong số nợ trên. Trường hợp ông Nguyễn Xuân B không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nêu trên thì Ngân hàng N yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6280-LCP-202001069 ngày 16/7/2020. Ngân hàng xác định chỉ khởi kiện yêu cầu cá nhân ông Nguyễn Xuân B có trách nhiệm thanh toán khoản nợ trên cho Ngân hàng và không biết vợ ông Nguyễn Xuân B là ai vì tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp ông Nguyễn Xuân B chưa có gia đình.

Bị đơn là ông Nguyễn Xuân B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để đến Tòa án giải quyết vụ kiện nhưng ông Nguyễn Xuân B đều vắng mặt không có lý do cũng như không gửi cho Tòa án văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do ông Nguyễn Xuân B vắng mặt nên vụ án không thể tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: thụ lý đúng quy định theo thẩm quyền, vi phạm thời hạn đưa vụ án ra xét xử, Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng nội dung, thành phần xét xử, đúng thời gian, địa điểm.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N, buộc bị đơn ông Nguyễn Xuân B có nghĩa vụ trả toàn bộ số nợ tính đến ngày 20/6/2025 là tiền nợ gốc: 1.776.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 687.119.947 đồng, lãi quá hạn là 28.126.852 đồng và ông Nguyễn Xuân B phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng giữa đôi bên kể từ ngày 21/6/2025 cho đến khi thanh toán xong số nợ trên. Trường hợp ông Nguyễn Xuân B không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nêu trên thì Ngân hàng N yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6280-LCP-202001069 ngày 16/7/2020.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Xuân B phải trả cho Ngân hàng số tiền đã vay và tiền lãi theo hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202001088 ngày 16/7/2020, phục lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ trả nợ ngày 20/7/2020 giữa Ngân hàng N - Chi nhánh Đ -Phòng G, địa chỉ số E L, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo thỏa thuận tại hợp đồng trường hợp mọi tranh chấp phát sinh tranh chấp từ hợp đồng này được giải quyết trên cơ sở thương lượng. Trường hợp không thương lượng được thống nhất giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh nay là Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.

Bị đơn ông Nguyễn Xuân B có địa chỉ thường trú: tổ A, ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nhưng ông Nguyễn Xuân B không có ở đại phương, địa chỉ chỗ ở: 480/37/8 B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, theo kết quả xác minh tại phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh không có địa chỉ trên. Do đó, việc niêm yết công khai không đảm bảo cho bị đơn ông Nguyễn Xuân B nhận được thông tin về việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án. Căn cứ Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành làm thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng đối với ông Nguyễn Xuân B nhưng bị đơn vẫn vắng mặt mà không có lý do nên căn cứ quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.

[3] Về nội dung:

Bị đơn ông Nguyễn Xuân B đã được Tòa án triệu tập và thông báo đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N nhưng ông Nguyễn Xuân B vắng mặt không rõ lý do cũng như không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Như vậy, ông Nguyễn Xuân B đã từ bỏ các quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

[3.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202001088 ngày 16/7/2020, phục lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ trả nợ ngày 20/7/2020 giữa Ngân hàng N - Chi nhánh Đ -Phòng G với ông Nguyễn Xuân B, ngày nhận nợ tiền vay 20/7/2020 có cơ sở xác định ngày 20/7/2020 ông Nguyễn Xuân B có vay của Ngân hàng N số tiền 1.900.000.000 đồng, vay bù đắp tài chính mua đất ở xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, thời hạn vay là 240 tháng (từ ngày 20/7/2020 đến ngày 20/7/2040), lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng là 9.5%/năm. Phương thức áp dụng lãi suất có điều chỉnh nhưng phải phù hợp với quy định hiện hành của Ngân hàng N, lãi suất nợ quá hạn tối đa bằng 150%/năm so với lãi suất vay đã thỏa thuận, lãi suất chậm trả 10%/năm, phương thức trả tiền vay là định kỳ vào ngày 20 hàng tháng với số tiền gốc 7.750.000 đồng và trả tiền lãi cùng kỳ trả gốc. Từ khi vay cho đến ngày xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Xuân B đã thanh toán tổng tiền nợ gốc: 124.000.000 đồng và tiền lãi: 176.883.337 đồng. Đến kỳ hạn trả ngày 20/7/2021 ông Nguyễn Xuân B không tiếp tục trả tiền nợ vay. Do ông Nguyễn Xuân B vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận của các bên tại hợp đồng tín dụng, Ngân hàng chuyển toàn bộ dư nợ gốc sang nợ quá hạn áp dụng lãi suất nợ quá hạn 150% trên toàn bộ dư nợ từ ngày 21/7/2022 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản vay.

Mặc dù, Hợp đồng tín dụng trên tính đến thời điểm khởi kiện (đơn khởi kiện ngày 28/6/2024) là chưa kết thúc thời hạn vay nhưng do bị đơn ông Nguyễn Xuân B vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi quy định tại Điều 6, Điều 8 Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202001088 ngày 16/7/2020 nên Ngân hàng N khởi kiện khi chưa kết thúc thời hạn vay là phù hợp với thỏa thuận của hai bên tại hợp đồng.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Nguyễn Xuân B phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc: 1.776.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 20/6/2025 gồm tiền lãi trong hạn là 687.119.947 đồng, lãi quá hạn là 28.126.852 đồng, tổng cộng là 2.491.246.799 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Xuân B còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong tiền nợ. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

[3.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp:

Căn cứ hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6280-LCP-202001069 ngày 16/7/2020 giữa bên thế chấp ông Nguyễn Xuân B và bên nhận thế chấp Ngân hàng N số công chứng 007600 ngày 16/7/2020, đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 17/7/2020 với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 136,7m² đất ở tại nông thôn và 14,7m² đất trồng cây lâu năm thuộc thửa 520 tờ bản đồ số 17 tại xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 657080 do Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16/12/2010, cập nhật thay đổi 16/7/2020 cho ông Nguyễn Xuân B để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của bị đơn bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, các khoản phí và chi phí phát sinh khác có liên quan theo hợp đồng tín dụng trên. Căn cứ Điều 117, Điều 319 Bộ luật dân sự năm 2015, Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính Phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm, hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật các bên tham gia hợp đồng có nghĩa vụ thực hiện thỏa thuận tại hợp đồng.

Trường hợp ông Nguyễn Xuân B không thanh toán được nợ gốc và lãi thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6280-LCP-6280-LCP-202001069 ngày 16/7/2020.

Ngày ông Nguyễn Xuân B thanh toán xong nợ gốc và lãi cho Ngân hàng N thì Ngân hàng N phải trả lại toàn bộ bản chính giấy tờ nhà đất cho ông Nguyễn Xuân B theo theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6280-LCP-202001069 ngày 16/7/2020.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Xuân B phải chịu tiền án phí sơ thẩm.

Nguyên đơn Ngân hàng N được trả lại tiền tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 40 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015.

Áp dụng Điều 4 và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N.

    Buộc ông Nguyễn Xuân B có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ cho Ngân hàng N đến hết ngày 20/6/2025 với số tiền nợ là 2.491.246.799 đồng (trong đó tiền nợ gốc: 1.776.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 687.119.947 đồng, lãi quá hạn là 28.126.852 đồng) theo Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202001088 ngày 16/7/2020 và phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ trả nợ ngày 20/7/2020 giữa Ngân hàng N với ông Nguyễn Xuân B.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Xuân B còn phải tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng N trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán hết toàn bộ số nợ trên theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202001088 ngày 16/7/2020. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

    Trường hợp ông Nguyễn Xuân B không thanh toán được nợ gốc và lãi cho Ngân hàng N thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6280-LCP-202001069 ngày 16/7/2020, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 136,7m² đất ở tại nông thôn và 14,7m² đất trồng cây lâu năm thuộc thửa 520 tờ bản đồ số 17 tại xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 657080 do Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16/12/2010, cập nhật thay đổi 16/7/2020 cho ông Nguyễn Xuân B. Đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 17/7/2020 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để thu hồi nợ.

    Ngày ông Nguyễn Xuân B thanh toán xong nợ gốc và lãi cho Ngân hàng N thì Ngân hàng N phải trả lại toàn bộ bản chính giấy tờ đã thế chấp cho ông Nguyễn Xuân B theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6280-LCP-202001069 ngày 16/7/2020.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Nguyễn Xuân B phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 81.824.936 đồng nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.

    Ngân hàng N không phải chịu án phí. Ngân hàng N được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 39.127.133 đồng theo Biên lai thu số 0068037 ngày 16/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Về chi phí tố tụng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 15.000.000 đồng nguyên đơn Ngân hàng N đã tạm nộp nên bị đơn ông Nguyễn Xuân B có trách nhiệm hoàn lại cho Ngân hàng N số tiền 15.000.000 đồng tiền chi phí tố tụng, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.

    Về chi phí đăng trên phương tiện thông tin đại chúng nguyên đơn Ngân hàng N đã tạm ứng và Ngân hàng N phải chịu theo quy định tại khoản 2 Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TANDTP.HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1031/2025/DS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 1031/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Trần Xuân Bình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger