Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Mai Văn Hiệp.

Các hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Chí Lin.
  2. Ông Lý Văn Hùng.

– Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Còn – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 286/2024/TLST – DS ngày 14 tháng 3 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 137/2024/QĐXXST – DS, ngày 25 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 178/2024/QĐST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP X do ông Đỗ Hà P – Chủ tịch Hội đồng quản trị đại diện.

    Trụ sở: Tầng 8, Văn phòng S+16, Tòa nhà V, Số G, đường L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hồ Hoàng V – Phó tổng giám đốc (Theo văn bản ủy quyền ngày 17 tháng 01 năm 2024).

    Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Trương Thành T – Nhân viên xử lý nợ (Theo văn bản ủy quyền ngày 01 tháng 02 năm 2024), có mặt.

  2. Bị đơn:

    1. Ông Hứa L, sinh năm 1983.
    2. Bà Bùi Thị Thúy L1, sinh năm 1981.

    Cùng địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, vắng mặt.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Bà Bùi Thị H, sinh năm 1954.
    2. Bà Bùi Thị Huyền T1, sinh năm 1976.
    3. Cháu Hứa Tấn L2, sinh năm 2002.
    4. Cháu Hứa Phước L3, sinh năm 2008.
    5. Cháu Hứa Bùi Lan T2, sinh năm 2012.
    6. Cháu Hứa Phúc L4, sinh năm 2014.
    7. Chị Trần Huyển T3, sinh năm 2000.

    Cùng địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 18 tháng 3 năm 2024 và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Ngân hàng TMCP X do ông Trương Thành T đại diện trình bày: Ngày 17 tháng 01 năm 2020, Ngân hàng TMCP X có cho ông L và bà L1 vay số tiền là 450.000.000đồng thời hạn vay là 36 tháng. Mục đích vay là sửa chữa nhà và mua sắm trang thiết bị gia đình theo hợp đồng tín dụng từng lần số 2230-LAV-200006081. Ngày 22 tháng 4 năm 2020, Ngân hàng TMCP X có cho ông L và bà L1 vay số tiền là 350.000.000đồng. Mục đích vay là sửa chữa nhà và mua sắm trang thiết bị gia đình theo hợp đồng tín dụng từng lần số 2230-LAV-200031174. Ông L và bà L1 có thế chấp:

Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa 1155 tờ bản đồ số 4 tại ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An theo hợp đồng thế chấp số 11/2020/EIB-PGD ĐS/TC ngày 17 tháng 01 năm 2020.

Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa 556 tờ bản đồ số 4 tại ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An theo hợp đồng thế chấp số 122/2020/EIB-PGD ĐS/TC ngày 26 tháng 5 năm 2020.

Thực hiện hợp đồng, ông L và bà L1 thường xuyên vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Nay Ngân hàng TMCP X yêu cầu ông L và bà L1 có trách nhiệm liên đới trả số tiền là 443.229.695đồng (Trong đó, nợ gốc 344.176.000đồng; lãi trong hạn 58.548.345đồng; lãi quá hạn 35.122.208đồng; phạt chậm trả lãi 5.383.142đồng) lãi suất tạm tính đến ngày 31 tháng 5 năm 2024. Ngoài ra, Ngân hàng TMCP X yêu cầu ông L và bà L1 phải tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 01 tháng 6 năm 2024 cho đến khi ông L và bà L1 trả hết nợ theo hợp đồng tín dụng từng lần số 2230-LAV-200006081 ngày 17 tháng 01 năm 2020 và hợp đồng tín dụng từng lần số 2230-LAV-200031174 ngày 22 tháng 4 năm 2020. Nếu ông L và bà L1 không trả nợ hoặc trả nợ không đủ thì Ngân hàng TMCP X được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 11/2020/EIB-PGD ĐS/TC ngày 17 tháng 01 năm 2020 và theo hợp đồng thế chấp số 122/2020/EIB-PGD ĐS/TC ngày 26 tháng 5 năm 2020.

Tại lời trình bày của bị đơn ông Hứa L và bà Bùi Thị Thúy L1: Ông L và bà L1 xác nhận có nợ tiền của Ngân hàng TMCP X và hẹn trả phần lãi trong vòng 02 tháng và xin tiếp tục hợp đồng.

Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng họ không đến Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An làm việc hoặc phản hồi ý kiến của họ về việc giải quyết vụ án.

Quan điểm của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa:

Vê tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã đưa đúng và đầy đủ người vào tham gia tố tụng, việc thu thập chứng cứ và điều tra làm rõ vụ án được tiến hành khách quan, đúng pháp luật; việc thụ lý là đúng thẩm quyền; không có đương sự khiếu nại trong quá trình giải quyết vụ án.

Về nội dung: Căn cứ vào hợp đồng tín dụng từng lần số 2230-LAV-200006081 ngày 17 tháng 01 năm 2020 và hợp đồng tín dụng từng lần số 2230-LAV-200031174 ngày 22 tháng 4 năm 2020, xác định ông L và bà L1 có vay của Ngân hàng TMCP X tổng số tiền 800.000.000đồng, mục đích vay là là sửa chữa nhà và mua sắm trang thiết bị gia đình. Đồng thời, ông L và bà L1 có thế chấp Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa 1155 tờ bản đồ số 4 tại ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An theo hợp đồng thế chấp số 11/2020/EIB-PGD ĐS/TC ngày 17 tháng 01 năm 2020; Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa 556 tờ bản đồ số 4 tại ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An theo hợp đồng thế chấp số 122/2020/EIB-PGD ĐS/TC ngày 26 tháng 5 năm 2020. Đến hạn thanh toán nhưng ông L và bà L1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP X. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tung:

[1.1] Quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; Bị đơn ông Hứa L và bà Bùi Thị Thúy L1 có hộ khẩu thường trú tại ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Qua yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP X, Hội đồng xét xử thấy rằng: Căn cứ vào hợp đồng tín dụng từng lần số 2230-LAV-200006081 ngày 17 tháng 01 năm 2020 và hợp đồng tín dụng từng lần số 2230-LAV-200031174 ngày 22 tháng 4 năm 2020, xác định ông L và bà L1 có vay của Ngân hàng TMCP X tổng số tiền 800.000.000đồng, mục đích vay là sửa chữa nhà và mua sắm trang thiết bị gia đình. Đồng thời, ông L và bà L1 có thế chấp Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa 1155 tờ bản đồ số 4 tại ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An theo hợp đồng thế chấp số 11/2020/EIB-PGD ĐS/TC ngày 17 tháng 01 năm 2020; Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa 556 tờ bản đồ số 4 tại ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An theo hợp đồng thế chấp số 122/2020/EIB-PGD ĐS/TC ngày 26 tháng 5 năm 2020. Thực hiện hợp đồng, ông L và bà L1 thường xuyên vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Nay Ngân hàng TMCP X yêu cầu ông L và bà L1 có trách nhiệm liên đới trả số tiền là 443.229.695đồng (Trong đó, nợ gốc 344.176.000đồng; lãi trong hạn 58.548.345đồng; lãi quá hạn 35.122.208đồng; phạt chậm trả lãi 5.383.142đồng) lãi suất tạm tính đến ngày 31 tháng 5 năm 2024 là phù hợp với quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự và khoản 2 Điều 91, khoản 2, 3 Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2011. Xét quan điểm của Kiểm sát viên là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[2.2] Đối với tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa 1155 tờ bản đồ số 4 tại ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An theo hợp đồng thế chấp số 11/2020/EIB-PGD ĐS/TC ngày 17 tháng 01 năm 2020; Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa 556 tờ bản đồ số 4 tại ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An theo hợp đồng thế chấp số 122/2020/EIB-PGD ĐS/TC ngày 26 tháng 5 năm 2020 thì Ngân hàng TMCP X được tiếp tục giữ lại để đảm bảo cho công tác thi hành án là phù hợp theo quy đinh tại Điều 321 của Bộ luật Dân sự và Điều 6 Ngị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2021.

[2.3] Về chi phí xem xét, thẩm định: Ngân hàng TMCP X có nộp số tiền 3.000.000đồng đã đi xem xét, thẩm định và đã chi phí xong nên cần buộc ông L và bà L1 có nghĩa vụ nộp để trả lại cho Ngân hàng TMCP X là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 161 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Về án phí: Buộc ông Hứa L và bà Bùi Thị Thúy L1 có trách nhiệm liên đới chịu án phí Dân sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 92, 144, khoản 1 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 424, Điều 427, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 91, khoản 2, 3 Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2011;

Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP X về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với ông Hứa L và bà Bùi Thị Thúy L1.

Buộc ông Hứa L và bà Bùi Thị Thúy L1 có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng TMCP X số tiền 443.229.695đồng (Trong đó, nợ gốc 344.176.000đồng; lãi trong hạn 58.548.345đồng; lãi quá hạn 35.122.208đồng; phạt chậm trả lãi 5.383.142đồng) lãi suất tạm tính đến ngày 31 tháng 5 năm 2024.

Kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2024 cho đến khi ông L và bà L1 trả hết nợ trên, Ngân hàng TMCP X có quyền yêu cầu ông L và bà L1 trả thêm tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng từng lần số 2230-LAV-200006081 ngày 17 tháng 01 năm 2020 và hợp đồng tín dụng từng lần số 2230-LAV-200031174 ngày 22 tháng 4 năm 2020 cho đến khi ông L và bà L1 trả hết nợ.

Ngân hàng TMCP X được giữ lại Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa 1155 tờ bản đồ số 4 tại ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An theo hợp đồng thế chấp số 11/2020/EIB-PGD ĐS/TC ngày 17 tháng 01 năm 2020; Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa 556 tờ bản đồ số 4 tại ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An theo hợp đồng thế chấp số 122/2020/EIB-PGD ĐS/TC ngày 26 tháng 5 năm 2020 đến khi ông L và bà L1 thi hành xong số tiền nêu trên.

Nếu ông L và bà L1 không thanh toán xong số tiền trên thì Ngân hàng TMCP X được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp là Q sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa 1155 tờ bản đồ số 4 tại ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An theo hợp đồng thế chấp số 11/2020/EIB-PGD ĐS/TC ngày 17 tháng 01 năm 2020; Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa 556 tờ bản đồ số 4 tại ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An theo hợp đồng thế chấp số 122/2020/EIB-PGD ĐS/TC ngày 26 tháng 5 năm 2020.

Về chi phí xem xét, thẩm định: Buộc ông Hứa L và bà Bùi Thị Thúy L1 nộp lại số tiền 3.000.000đồng để trả lại cho Ngân hàng TMCP X.

Về án phí: Buộc ông Hứa L và bà Bùi Thị Thúy L1 có trách nhiệm liên đới chịu 21.729.000đồng án phí Dân sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP X số tiền 11.180.000đồng tạm ứng án phí tại biên lai thu 6583 ngày 13 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.

Án này là sơ thẩm, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết./.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án là 05 năm theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 286/2024/TLST-DS ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 286/2024/TLST-DS
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hop dong
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger