Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI

TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/DS-ST

Ngày 30-9-2024

V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Hồng Ánh;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hoàng Minh Tân;
  2. Bà Đinh Thị Thanh Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 224/2023/TLST-DS ngày 23-10-2023 về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 377/2024/QĐXXST-DS ngày 28-8-2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Mai Công T, sinh năm 1993; địa chỉ: Số G, đường N, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
  2. Bị đơn:
    1. Ông Đặng Lý N, sinh năm 1984; địa chỉ: Đ, thôn H, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi;
    2. Đại diện hợp pháp của ông N: Ông Huỳnh Đức O, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ A, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; là người đại diện theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền ngày 12-9-2024); có mặt.

    3. Bà Trần Thị NY, sinh năm 1992; đại chỉ: 575 Q, tổ D, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

  1. Tại Đơn khởi kiện ngày 03-4-2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Mai Công T trình bày:

    Vào ngày 02-3-2022, ông có ký hợp đồng đặt cọc với ông Đặng Lý N và bà Trần Thị NY để mua thửa đất số 818, tờ bản đồ số 56, tại địa chỉ phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CN499777 do Ủy ban Nhân dân Quận A cấp ngày 29-01-2019; đăng ký thay đổi ngày 06-12-2021 và hẹn trong 60 ngày kể từ ngày ký hợp đồng đặt cọc, hai bên sẽ tiến hành ký kết công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Đến hạn, ông đã gia hạn nhiều lần và cố gắng liên hệ với ông N và bà NY qua các hình thức như gọi điện qua điện thoại, gọi điện qua zalo hay nhắn tin EMS cho ông N và bà NY để hẹn ký công chứng, tuy nhiên đến thời điểm hiện tại, ông không nhận được bất kỳ phản hồi nào từ phía ông N và bà NY. Ông cảm thấy quyền và lợi ích hợp pháp của ông đã bị ông N và bà NY xâm phạm nghiêm trọng. Yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông N và bà NY hoàn trả cho tôi số tiền đặt cọc là 2.000.000.000 đồng và bồi thường cọc do vi phạm nghĩa vụ là 1.000.000.000 đồng, tổng số tiền là 3.000.000.000 đồng; ông rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền phạt cọc 1.000.000.000 đồng.

  2. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Đặng Lý N (do ông Huỳnh Đức O đại diện) trình bày:

    Ông N thống nhất với trình bày của nguyên đơn về việc ký Hợp đồng đặt cọc ngày 02-3-2022, đã nhận số tiền đặt cọc 2.000.000.000 đồng. Ông N đồng ý hoàn trả số tiền 2.000.000.000 đồng và phạt cọc 1.000.000.000 đồng theo yêu cầu của nguyên đơn.

  3. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trần Thị NY trình bày:

    Việc giao dịch ban đầu là giữa ông N và ông T, bà là người ký sau cùng khi được ông N thông báo và không biết rõ nội dung của giao dịch; bà sẽ đưa ra ý kiến cho những lần triệu tập tiếp theo.

  4. Ý kiến của Kiểm sát viên:
    1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định tư cách đương sự, tống đạt văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử, thời gian gởi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, trình tự thủ tục phiên tòa; nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn bị đơn ông N, bà NY chưa chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự.
    2. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông N và bà NY hoàn trả cho ông T số tiền đặt cọc 2.000.000.000 đồng và bồi thường 1.000.000.000 đồng; đình chỉ đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc ông N, bà NY bồi thường số tiền 1.000.000.000 đồng; bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bị đơn bà NY vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt bà NY.

[1.2] Tại phiên tòa, nguyên đơn ông T rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền phạt cọc 1.000.000.000 đồng. Xét việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, căn cứ Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận, đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện mà ông T đã rút.

[2] Về nội dung:

[2.1] Theo Hợp đồng đặt cọc ngày 02-3-2022 được Văn phòng C, thành phố Hồ Chí Minh công chứng ngày 02-3-2022 giữa bên nhận đặt cọc (bên A) là ông Đặng Lý N, bà Trần Thị NY, và bên đặt cọc (bên B) là ông Mai Công T; Giấy nhận tiền ngày 02-3-2022 giữa bên giao tiền (bên A) là ông Mai Công T và bên nhận tiền (bên B) là ông Đặng Lý N, bà Trần Thị NY thì ông T thỏa thuận đặt cọc để nhận chuyển nhượng thửa đất số 818, tờ bản đồ số 56, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh từ ông N, bà NY, theo đó ông T đặt cọc cho ông N, bà NY số tiền 2.000.000.000 đồng, đã giao nhận đủ số tiền 2.000.000.000 đồng; tại Điều 1 của Hợp đồng đặt cọc, 02 bên thỏa thuận trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày ký Hợp đồng đặt cọc, hai bên sẽ tiến hành ký kết công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo luật định; tại Điều 4 của Hợp đồng đặt cọc, hai bên thỏa thuận “Nếu quá thời hạn nêu tại Điều 1, bên A không chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bên B như đã cam kết thì phải trả lại tiền cọc cho bên B, đồng thời bồi thường số tiền tương đương tiền cọc cho bên B; nếu quá thời hạn nêu tại Điều 1, bên B không nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bên A như đã hứa thì sẽ mất tiền đã đặt cọc; trường hợp do khách quan, cơ quan nhà nước không cho chuyển nhượng, thì sẽ hoàn lại tiền đặt cọc”.

[2.2] Tại phiên tòa, bị đơn ông N đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T.

[2.3] Khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Dân sự quy định: “Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Thỏa thuận giữa ông T và ông N, bà NY trong Hợp đồng đặt cọc là đúng quy định của luật; bà NY trình bày rằng mình không biết về giao dịch nhưng trong Hợp đồng đặt cọc có chữ ký của bà NY, giấy nhận tiền có chữ ký và điểm chỉ của bà NY. Hội đồng xét xử có căn cứ để xác định ông N, bà NY từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng nên việc ông T khởi kiện yêu cầu ông N, bà NY hoàn trả số tiền đặt cọc 2.000.000.000 đồng và bphạt cọc 1.000.000.000 đồng là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.4] Về án phí: Ông N, bà NY phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 92.000.000 đồng (cách tính: 72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt 2.000.000.000 đồng) theo Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; hoàn trả cho ông T tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[3] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 144, 147, 227, 228, 244, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 328, 357, 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Mai Công T về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
  2. Buộc ông Đặng Lý N và bà Trần Thị NY có nghĩa vụ trả cho ông Mai Công T số tiền 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng).
  3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
  4. Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện của ông Mai Công T về việc buộc ông Đặng Lý N và bà Trần Thị NY bồi thường tiền cọc số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng).
  5. Ông Đặng Lý N và bà Trần Thị NY phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 92.000.000 đồng (chín mươi hai triệu đồng).

    Hoàn trả cho ông Mai Công T 56.000.000 đồng (năm mươi sáu triệu đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2022/0005747 ngày 14-4-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

  6. Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
  7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND TP Quảng Ngãi;
  • - CCTHADS TP Quảng Ngãi;
  • - CCTHADS Quận A, TPHCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Hồng Ánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/DS-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 103/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông T đặt cọc cho ông N để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng ông N không thực hiện đúng hợp đồng nên ông T khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger