TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 103/2024/HS-ST Ngày: 28/9/2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Loan
Ông Lê Xuân Lãm
- Thư ký phiên tòa: ông Thân Văn Đông- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 94/2024/TLST-HS ngày 18/9/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2024/QĐXXST-HS ngày 18/9/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam
Sinh năm 1979
Nơi cư trú: thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Kinh doanh; Chức vụ: Không; Trình độ học vấn: 05/12;
Họ và tên cha: Dương Ngọc H, đã chết;
Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T1 - sinh năm 1950;
Vợ: Đỗ Thị H1 - sinh năm 1990;
Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2019;
Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ 2;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/6/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H (có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị Hương Q, sinh năm 2005 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm 17, xã Hải Đường, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
- Anh Tạ Hồng H2, sinh năm 1997 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn M, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
- Chị Đỗ Thị H1, sinh năm 1990(có mặt)
Địa chỉ: thôn Bảo An, xã Hoàng An, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
- Anh Vũ Lệnh S, sinh năm 2003(vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 02 giờ 25 phút ngày 11/6/2024, tại nhà nghỉ H3 thuộc thôn B, xã H, huyện H; Phòng quản lý hành chính về trật tự xã hội - Công an tỉnh B phối hợp cùng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an huyện H bắt quả tang Dương Văn T - sinh năm 1979 trú tại thôn B, xã H, huyện H và Nguyễn Thị Hương Q - sinh năm 2005 trú tại xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ở phòng 501. Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang gồm: 01 đĩa sứ màu trắng (trên mặt bám dính tinh thể màu trắng); 01 thẻ cứng sim điện thoại; 01 ống quấn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, trên ống quấn có 03 đoạn được quấn giấy màu vàng; 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa viền màu trắng bên trong có 03 túi nilon màu trắng một đầu đều có rãnh khóa bằng nhựa viền màu đỏ, trong đó: 02 túi nilon bên trong bám dính tinh thể màu trắng, 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy; được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT1” và “QT2”. Ngoài ra, thu giữ trên người Dương Văn T: tại túi quần phía trước bên trái T đang mặc có 03 viên nén màu xanh, trên mỗi viên nén có chữ “JNW”, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT3”; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro và số tiền 1.600.000 đồng; thu giữ của Nguyễn Thị Hương Q số tiền 2.500.000 đồng.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Dương Văn T. Kết quả: không thu giữ tài liệu, đồ vật gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Tiến hành kiểm tra việc sử dụng ma túy đối với T và Q. Kết quả xác định: Dương Văn T và Nguyễn Thị Hương Q đều dương tính với chất ma túy MDMA, Ketamine, M và A.
Tại Kết luận giám định số 1303/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
- Trong 01 (một) thùng cát tông ký hiệu “ĐT” đã được niêm phong gửi giám định: Tìm thấy chất ma tuý, loại Ketamine trên 01 (một) đĩa sứ màu trắng, đường kính 25cm và 01 (một) thẻ cứng sim điện thoại Vietnamobile màu đỏ, không xác định được khối lượng.
- Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT1” đã được niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) gói giấy màu trắng, được đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng là ma tuý, có khối lượng 0,057 gam, loại Ketamine.
- Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT2” đã được niêm phong gửi giám định: Trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khoá bằng nhựa:
+ Chất tinh thể màu trắng đụng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khoá bằng nhựa, viền màu đỏ là ma tuý, có khối lượng 0,678 gam, loại Ketamine.
+ Chất tinh thể màu trắng bám dính trong 02 (hai) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khoá bằng nhựa, viền màu đỏ đều là ma tuý, loại Ketamine, không xác định được khối lượng.
- Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT3” đã được niêm phong gửi giám định: Không tìm thấy chất ma tuý trong 03 (ba) viên nén màu xanh, trên một mặt của mỗi viên nén có chữ "JNW", có tổng khối lượng 2,611 gam.
Tại Kết luận giám định số 1321 ngày 18/6/2024 và Kết luận giám định số 1511 ngày 11/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Trên 01 đĩa sứ màu trắng gửi giám định phát hiện thấy có hai dấu vết đường vân thể hiện rõ đặc điểm, đủ yếu tố giám định. Dấu vết đường vân ký hiệu A1 so với dấu vết in ở ô “nhẫn trái” trên chỉ bản mang tên Dương Văn T là của cùng một người. Dấu vết đường vân ký hiệu A2 so với dấu vết in ở ô “cái trái” trên chỉ bản mang tên Dương Văn T là của cùng một người.
Tại Cơ quan điều tra, Dương Văn T và Nguyễn Thị Hương Q khai nhận: T là chủ nhà nghỉ H3 có địa chỉ tại thôn B, xã H, huyện H. Chiều ngày 10/6/2024, có một nam thanh niên (T khai không rõ tên, tuổi, địa chỉ) đến nghỉ tại nhà nghỉ H3 và cho T 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, bên trong có các viên nén màu xanh và các túi nilon nhỏ và nói với T “dùng cái này thích lắm, nhất là khi có gái”. T không kiểm tra bên trong có gì mà cất giấu luôn vào trong túi quần bên phải đang mặc. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, T một mình đi uống bia tại quán bia ở địa phận xã T, huyện H và có gặp Tạ Hồng H2 - sinh năm 1997 trú tại thôn M, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (H2 làm nghề quản lý nhân viên phục vụ quán hát và hay thuê phòng nghỉ tại nhà nghỉ của T nên hai bên có quen biết nhau). Quá trình uống bia, H2 nói với T về việc H2 đang quản lý một số nhân viên nữ mới, rất xinh. Thấy vậy, T nảy sinh ý định sẽ thuê nhân viên của H2 về để hát cùng T.
Đến khoảng 01 giờ ngày 11/6/2024, T gọi điện thoại cho H2 bảo H2 đưa một nhân viên nữ đến nhà nghỉ H2, H2 đồng ý. Sau đó, H2 gọi điện thoại cho Vũ Lệnh S - sinh năm 2003 trú tại thôn C, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên bảo S đến phòng trọ của Nguyễn Thị Hương Q ở thôn T, xã T, huyện H và chở Q đến nhà nghỉ H3 theo yêu cầu của T. Trong khoảng thời gian đợi nhân viên nữ, T nhớ đến lời thanh niên thuê phòng lúc chiều nói nên T bỏ túi nilon ra kiểm tra thì phát hiện bên trong có 03 viên nén màu xanh, trên mỗi mặt của mỗi viên nén có chữ “JNW” và 03 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, trong đó có: 01 túi bên trong đựng chất tinh thể màu trắng, 01 túi bên trong chứa một viên nén màu xám và 01 túi bám dính tinh thể màu trắng. Do có tìm hiểu trên mạng trước đó nên T biết đây là ma túy kẹo và Ketamine. Sau đó, T chuẩn bị một đĩa sứ màu trắng, một thẻ cứng sim điện thoại, một tẩu quấn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng và mang lên để trong phòng 501 của nhà nghỉ. Khoảng một lúc sau, S chở Q đến nhà nghỉ của T. T bảo Q lên phòng 501 chờ T. Q đi lên phòng trước, khoảng 05 phút sau thì T lên. Khi vào phòng, T lấy từ trong túi quần bên phải ra túi nilon có chứa ma túy, T lấy 01 viên ma túy kẹo rồi bẻ làm đôi, T và Q mỗi người nửa viên ma túy kẹo và tự sử dụng hết số ma túy trên.
Sau khi sử dụng ma túy kẹo xong, T lấy đĩa sứ đã chuẩn bị từ trước mang vào phòng tắm của phòng 501, dùng bật lửa hơ nóng rồi mang ra ngoài, lấy túi nilon có chứa ma túy Ketamine ra, đổ một phần vào đĩa sứ, dùng thẻ cứng sim điện thoại nghiền nát, gạt mỏng và kẻ ma túy Ketamine trên mặt đĩa thành 01 đường nhỏ. T dùng tẩu quấn bằng tờ tiền, đặt một đầu vào đường ma túy vừa kẻ, một đầu đặt vào mũi để hít ma túy vào cơ thể. Sau đó, T tiếp tục dùng vỏ thẻ sim điện thoại kẻ ma túy ketamin trên mặt đĩa thành 02 đường nhỏ, một tay T cầm đĩa sứa, một tay cầm tẩu đặt một đầu vào đường ma túy vừa kẻ, một đầu đưa về phía Q. Thấy vậy, Q cầm tẩu, đặt vào mũi và hít hết hai đường ma túy T vừa kẻ. Sau khi sử dụng ma túy xong, T cầm đĩa sứ (trên mặt đĩa có túi nilon chứa số ma túy còn lại) và đặt lên kệ gỗ ở đầu giường rồi cùng Q nằm xuống giường ngủ. Số ma túy còn lại T bỏ ra nhưng chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.
Cáo trạng số 97/CT-VKS-HH ngày 18/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Dương Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay: Bị cáo Dương Văn T đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra có trong hồ sơ vụ án. Chị H1 khai không biết việc bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vì thời gian đó chị đang ở quê Nam Định, chị không có yêu cầu gì trong vụ án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có yêu cầu gì.
Kiểm sát viên thực hành công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Dương Văn T từ 02 năm tù đến 02 năm 02 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/6/2024; Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 đĩa sứ màu trắng có đường kính 25cm; 01 thẻ cứng sim điện thoại Vietnammobile màu đỏ (đã được niêm phong trong 01 thùng cát tông ký hiệu "ĐT"); 01 phong bì niêm phong ký hiệu “QT1” bên trong có chứa ma túy (hoàn lại sau giám định); 01 phong bì niêm phong ký hiệu “QT2” bên trong có chứa ma túy (hoàn lại sau giám định); 03 viên nén màu xanh, trên viên nén có chữ “JNW” (được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu “QT3”); 03 đoạn giấy vàng quấn trên tờ tiền 10.000 đồng.
Tịch thu sung công 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng.
Trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro và số tiền 1.600.000 đồng nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Ngoài ra còn đề nghị giải quyết về án phí và quyền kháng cáo cho những người tham gia tố tụng.
Bị cáo Dương Văn T không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình, bị cáo mong Hội đồng xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, tuy nhiên đã có đầy đủ lời khai của họ trong hồ sơ, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
[3] Lời khai nhận tội của bị cáo Dương Văn T tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng khác và các tài liệu chứng cứ thu thập được nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 11/6/2024, tại nhà nghỉ H3 thuộc thôn B, xã H, huyện H; Dương Văn T đã sử dụng địa điểm thuộc quyền quản lý của mình, chuẩn bị công cụ phương tiện và cung cấp ma túy, trực tiếp kẻ ma túy để đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể cho Nguyễn Thị Hương Q sử dụng. Ngoài ra, T còn cất giấu trái phép tổng số 0,735 gam ma túy Ketamine nhằm mục đích sử dụng hết nhưng khi đang sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.
Bị cáo Dương Văn T có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã chủ động chuẩn bị công cụ, phương tiền và rủ Nguyễn Thị Hương Q cùng sử dụng ma túy nhằm mục đích mong muốn đưa chất ma túy vào cơ thể của người sử dụng ma túy nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là có căn cứ.
Về số ma túy lại thu giữ của T có tổng khối lượng 0,735 gam ma túy Ketamine, Ma túy thu giữ là Ketamine có tổng khối lượng dưới 01 gam; chưa đủ lượng để cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Mặt khác, T khai T cất giấu với mục đích để sử dụng nhưng chưa sử dụng hết. Do đó cần thu hút và xử lý về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Ma túy là một hiểm họa mà cả nhân loại đang ra sức loại trừ khỏi đời sống xã hội, nó làm ảnh hưởng tới sức khỏe và kinh tế gia đình, làm hủy hoại nhân cách con người và còn là nguyên nhân dẫn đến nhiều tội phạm hình sự khác. Do vậy cần xử lý nghiêm bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để quyết định mức hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
[5] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- Về nhân thân: Bị cáo Dương Văn T có nhân thân tốt vì ngoài lần phạm tội này, bị cáo chưa bị kết án, chưa bị xử lý hành chính lần nào.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định ở khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết "Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải", quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[6] Xét tính chất vụ án, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[7] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo phạm tội lần đầu, hiện đang bị tạm giam, điều kiện kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng:
Đối với số lượng chất ma túy hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành; 01 đĩa sứ màu trắng (trên mặt bám dính tinh thể màu trắng); 01 thẻ cứng sim điện thoại là công cụ sử dụng vào việc phạm tội, 03 đoạn giấy màu vàng quấn quanh tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng là vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 03 viên nén màu xanh, trên mỗi viên nén có chữ “JNW” là của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng bị cáo không đề nghị xin lại, đề nghị tiêu hủy nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 ống quấn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng là công cụ phạm tội cần tịch thu sung công.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro và số tiền 1.600.000 đồng là của T không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[9] Về các vấn đề khác:
Đối với người thanh niên đến thuê phòng trọ đã cho T ma túy, T không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này. Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra sổ sách theo dõi khách ra vào nhà nghỉ ngày 10/6/2024 nhưng không có kết quả. Cơ quan điều tra không có căn cứ để tổ chức điều tra, xử lý là có căn cứ.
Đối với Tạ Hồng H2: H2 không biết T thuê nhân viên nữ của mình để cùng sử dụng ma túy hay với mục đích quan hệ tình dục; giữa H2 và T cũng chưa bàn bạc hay trả tiền về việc thuê nhân viên nữ, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét, xử lý là có căn cứ.
Đối với Nguyễn Thị Hương Q: Q không biết việc T thuê Q đến nhà nghỉ để cùng sử dụng ma túy. Khi T đưa ma túy kẹo và kẻ ma túy K bảo Q sử dụng thì Q sử dụng nhưng bản thân Q không chuẩn bị công cụ, phương tiện hay thực hiện bất cứ hành động gì cùng T để sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy, hành vi của Nguyễn Thị Hương Q không cấu thành tội phạm. Ngày 13/8/2024, công an huyện H đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Q về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” với hình thức phạt tiền là có căn cứ.
[10] Về án phí: Bị cáo Dương Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Dương Văn T 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 11/6/2024).
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 đĩa sứ màu trắng có đường kính 25cm; 01 thẻ cứng sim điện thoại Vietnammobile màu đỏ (đã được niêm phong trong 01 thùng cát tông ký hiệu “ĐT”); 01 phong bì niêm phong ký hiệu “QT1” bên trong có chứa ma túy (hoàn lại sau giám định); 01 phong bì niêm phong ký hiệu “QT2” bên trong có chứa ma túy (hoàn lại sau giám định); 03 viên nén màu xanh, trên viên nén có chữ “JNW” (được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu “QT3”); 03 đoạn giấy vàng quấn trên tờ tiền 10.000 đồng.
- Tịch thu sung công đối với 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng.
- Trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro, số I: 358267713975269 đã qua sử dụng (được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu “ĐT1”) và số tiền 1.600.000 đồng (Một triệu sáu trăm nghìn đồng) nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Toàn bộ đặc điểm vật chứng theo quyết định chuyển vật chứng số 81/QĐ-VKS-HH ngày 18/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/9/2024 giữa Công an huyện H với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa)
[3] Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Bị cáo Dương Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[4] Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đào Thị Oanh |
Bản án số 103/2024/HS-ST ngày 28/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 103/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Văn T - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
