Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHỔ YÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2024/HS-ST

Ngày: 28-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Xuân Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thanh
  2. Ông Nguyễn Hồng Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Trần Lê Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 78/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Ngô Duy P

(tên gọi khác: không có), sinh ngày 08 tháng 8 năm 1984 tại Thái Nguyên; nơi thường trú: tổ dân phố Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp trước khi phạm tội: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn V và bà Nguyễn Thị N; có vợ là Nguyễn Thị H và 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không có.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Trần Văn H1, sinh năm: 1989; địa chỉ: tổ dân phố H, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn Mạnh T, sinh năm: 2001; địa chỉ: tổ dân phố Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

- Người chứng kiến: Ông Ngô Văn H2, sinh năm: 1958; địa chỉ: tổ dân phố Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 15 phút ngày 22/01/2024, Đội Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an thành phố P đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại địa bàn tổ dân phố Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên thì nhận được tin báo của quần chúng nhân dân báo tin tại nhà Ngô Duy P (sinh năm 1984) có biểu hiện nghi vấn tàng trữ pháo nổ. Tổ công tác đã triển khai lực lượng đến kiểm tra tại nhà P thì phát hiện P đang nói chuyện cùng anh Trần Văn H1 (sinh năm 1989; trú tại tổ dân phố H, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên) và anh Nguyễn Mạnh T (sinh năm 2001; trú tại tổ dân phố Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên). Quá trình kiểm tra, P đã tự nguyện khai nhận đang cất giấu pháo nổ và giao nộp cho tổ công tác 01 thùng bìa cát tông có chứa 61 vật hình trụ tròn trong khu vực bếp củi và 01 thùng bìa cát tông có chứa 40 vật hình trụ tròn trong gầm giường phòng ngủ nhà P. Các vật hình trụ tròn đều được bọc bên ngoài bằng giấy có kích thước và màu sắc khác nhau, được bịt kín hai đầu, một đầu có gắn sợi dây. Theo P khai nhận toàn bộ số vật hình trụ tròn nêu trên đều là pháo nổ của P mua về để đốt trong dịp Tết Nguyên đán. Sau đó, tổ công tác đã lập biên bản sự việc, niêm phong vật chứng thu giữ rồi đưa P về Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để giải quyết theo thẩm quyền.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành mở niêm phong, cân khối lượng 101 vật hình trụ tròn thu giữ của Ngô Duy P được 8,2 kg. (niêm phong ký hiệu M gửi giám định). Tại bản Kết luận giám định số 369 ngày 26/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: “101 (một trăm linh một) vật hình trụ tròn có vỏ bọc bên ngoài bằng giấy, có kích thước và màu sắc khác nhau, được bịt kín hai đầu, một đầu gắn với một sợi dây trong niêm phong ký hiệu M là pháo nổ”.

Quá trình điều tra, Ngô Duy P khai nhận: Do có nhu cầu đốt pháo nổ vào dịp Tết Nguyên đán nên vào ngày 16/01/2024, P sử dụng mạng xã hội “Telegram” liên hệ với 01 người không rõ nhân thân lai lịch để đặt mua của người này 100 quả pháo nổ tự chế thì người này đồng ý và thoả thuận với P giá mua pháo nổ là 2.000.000 đồng. P yêu cầu người này chuyển pháo nổ đến khu vực đê gần nhà P thuộc tổ dân phố Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, khi nào nhận pháo P sẽ giao tiền thì người này đồng ý. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, khi P đang ở nhà thì người này gọi điện cho P qua ứng dụng “Telegram” và bảo P đã đến khu vực đê như P yêu cầu. Sau đó, P đi ra khu vực đê tổ dân phố Đ thì thấy 01 người nam giới đi xe mô tô không rõ biển kiểm soát, nhãn hiệu, đội mũ bảo hiểm trùm đầu, che kín mặt đang đỗ xe trên đê. P đi đến chỗ người này đỗ xe để nhận và kiểm tra pháo rồi giao cho người này số tiền 2.000.000 đồng, người này nhận tiền và điều khiển xe mô tô ra về. P mang số pháo mua được về nhà rồi chia số pháo vừa mua vào 02 thùng bìa cát tông nhỏ hơn, trong đó 01 thùng chứa 61 quả pháo P cất giấu vào khu vực bếp củi của gia đình, 01 thùng chứa 40 quả pháo P cất giấu vào gầm giường trong phòng ngủ của P. Đến khoảng 14 giờ 20 phút ngày 22/01/2024, khi P đang đứng ở sân nhà để nói chuyện cùng anh H1 và anh T là người quen của P

2

thì lực lượng Công an đến kiểm tra hành chính nhà P. Trong quá trình làm việc, P đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan Công an hai thùng bìa cát tông chứa pháo nổ như trên. Cơ quan Công an đã lập biên bản và cho hai thùng cát tông có chứa số pháo nêu trên vào trong một thùng giấy hình chữ nhật và niêm phong lại theo quy định rồi đưa P về Công an thành phố P làm việc.

Vật chứng của vụ án: 101 quả pháo nổ có tổng khối lượng 8,2 kg thu giữ của Ngô Duy P đã gửi trưng cầu giám định hết.

Tại bản cáo trạng số 87/CT-VKSPY ngày 24/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Ngô Duy P về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Duy P phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Đề nghị áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Ngô Duy P từ 09 - 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, kết luận định giá tài sản và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ xác định: Ngày 22/01/2024 tại nhà ở của Ngô Duy P thuộc tổ dân phố Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; P đã có hành vi tàng trữ 101 quả pháo nổ có khối lượng 8,2 kilôgam để sử dụng thì bị phát hiện xử lý.

3

Bản cáo trạng số 87/CT-VKSPY ngày 24/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Nội dung Điều 191 quy định:

“Điều 191. Tội tàng trữ,...hàng cấm

1. Người nào tàng trữ,... hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các Điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;

...”

[3] Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò các bị cáo thì thấy:

Về nhân thân: Quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Do đó bị cáo là người có nhân thân tốt.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử thấy có căn cứ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, yếu tố về nhân thân của bị cáo khi quyết định hình phạt thì thấy:

Tội phạm do bị cáo thực hiện thuộc loại tội ít nghiêm trọng, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo vẫn bất chấp quy định của pháp luật thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo và gia đình luôn chấp hành tốt đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo được cải tạo tại địa phương không gây nguy hiểm cho xã

4

hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn, xã hội nên đối chiếu với các quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Văn bản hợp nhất Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo thì thấy không cần áp dụng hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ để giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét thấy, mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp được chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Về chi phí tố tụng: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[7] Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[8] Các vấn đề khác của vụ án: Về nguồn gốc số pháo nổ đã thu giữ: Ngô Duy P khai mua của một người nam giới không quen biết do P liên hệ qua ứng dụng “Telegram”, khi giao dịch mua bán, người này đội mũ bảo hiểm che kín mặt nên P không nhìn được rõ mặt người này. Đối với chiếc điện thoại di động mà P sử dụng để truy cập ứng dụng “Telegram” thì P khai đã làm rơi mất. Do vậy, Cơ quan điều tra không xác định được đối tượng đã bán pháo nổ cho P.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Duy P phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”
  2. Về hình phạt:
    1. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Ngô Duy P 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

5

Giao bị cáo Ngô Duy P cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2.2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

3. Về án phí: Bị cáo Ngô Duy P phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND thành phố Phổ Yên;
  • - Chi cục THADS TP Phổ Yên;
  • - Công an thành phố Phổ Yên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Bị cáo;
  • - Người TGTT khác (nếu có);
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hoàng Xuân Lộc

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự (tàng trữ hàng cấm)

  • Số bản án: 103/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tàng trữ hàng cấm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger