|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, TP.ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 103/2023/HS-ST Ngày 27-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Hai
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Mai Văn Du
Ông Đặng Văn Khánh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dự, Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Tề Hoàng Anh Tuấn, chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 110/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Huỳnh Ngọc P, sinh ngày 07 tháng 10 năm 1984, tại Đà Nẵng. Nơi cư trú: Số nhà D N, tổ D, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa 07/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh P1, sinh năm: 1955 (đã chết) và bà Trương Thị Q, sinh năm: 1958 (còn sống). Gia đình bị cáo có 05 người con, bị cáo là con thứ ba; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: tốt. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giam từ ngày 14/8/2023 đến ngày 21/11/2023 tại Trại tạm giam Công an thành phố Đ; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa)
- Người bị hại:
- + Huỳnh Ngọc D, sinh năm: 1995; Trú tại: Số A đường L, phường H, quận C, TP ..(Vắng mặt tại phiên tòa)
- + Huỳnh Ngọc N, sinh năm: 1996; Trú tại: Số A đường L, phường H, quận C, TP ..(Vắng mặt tại phiên tòa)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Huỳnh Ngọc K, sinh năm: 2003; Trú tại: Số A đường L, phường H, quận C, TP ..(Vắng mặt tại phiên tòa)
+ Huỳnh Thị Ngọc P2, sinh năm: 1996; Nơi cư trú: Số D N, tổ D, phường H, quận C, TP .. (Vắng mặt tại phiên tòa)
+ Huỳnh Thị Ngọc Q1, sinh năm: 1988; Số D N, tổ D, phường H, quận C, TP ..(Vắng mặt tại phiên tòa)
- Người làm chứng:
- + Phạm Thị N1, sinh năm: 1974; Trú tại: số C đường N, phường H, quận C TP ..(Vắng mặt tại phiên tòa)
- + Đinh Thiên B, sinh năm: 1996; Trú tại: số B đường B, phường H, quận C, TP ..(Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 22 tháng 4 năm 2023, Huỳnh Ngọc D (sinh năm: 1995), Huỳnh Ngọc N (sinh năm: 1996) và Huỳnh Ngọc K (sinh năm: 2003), (là anh em ruột; cùng trú: số A đường L, phường H, quận C, TP .) đến nhà số D đường N, tổ D, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng ăn uống ở khu vực vỉa hè phía trước nhà với anh em con chú bác gồm Huỳnh Ngọc P, Huỳnh Thị Ngọc P2 (sinh năm: 1996; là em ruột P) và Hoàng Thiên B1 (sinh năm: 1996; trú: số B đường B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; là anh em con cô cậu với P). Sau đó, P2 đi vào trong nhà, một lúc sau nghe ở ngoài ngồi nhậu ồn ào lớn tiếng nên P2 đi ra và nói D, N, K, đi về không nhậu nữa thì xảy ra cãi vã. Cùng lúc đó, Huỳnh Thị Ngọc Q1 (sinh năm: 1988; là em ruột P) nghe ồn ào ở phía trước, đi ra nhìn thấy D, N, K cãi nhau với P2 nên Q1 cầm ghế nhựa đánh vào đầu K trúng mũ bảo hiểm K đang đội; Khứ cởi mũ bảo hiểm ra ném về phía P2, Q1 thì trúng vào mặt P2. Thấy vậy, P và B1 can ngăn thì D, N, K xảy ra xô xát đánh nhau với P; Q1 tiếp tục nhặt 02 thanh gỗ rồi đánh về phía D, N, K nhưng không trúng ai nên vứt thanh gỗ đi. Sau đó, anh B1 và chị Phạm Thị N1 (sinh năm: 1974; trú: số C đường N, phường H, quận C thành phố Đà Nẵng) can ngăn P và Q1 đi vào trong nhà; còn D, N, K đứng trước nhà tiếp tục chửi bới, khiêu khích P khoảng hơn 15 phút. Lúc này, P ở trong nhà nghe bị D, N, Khứ chửi bới nên tức giận, P đi vào trong bếp cầm lấy 01 con dao, dài 46cm, có cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại ở tay phải, kẹp sát giấu phía sau cẳng tay rồi đi ra đứng trước cổng tìm D, N, K. Trong lúc này, D quay lại bàn nhậu để tìm chìa khóa xe đi về thì nhìn thấy P đang cầm dao nên nghĩ P đánh N đang ở gần đó. Doanh chạy về phía P để giật con dao thì bị P cầm dao chém về phía Doanh theo hướng từ phải sang trái trúng vùng má trái của D; tiếp đến Phú xoay cổ tay phải, lật lưỡi dao chém ngược lại theo hướng từ trái sang phải trúng ngực trái và vai trái của D. Lúc này, D tiếp tục xông vào giật con dao mà P đang cầm thì bị mũi dao đâm trúng bị thương tích tại cẳng tay và ngón tay trái; sau đó, P dùng tay trái xô đẩy D ra và ngã nằm xuống đường. Nhìn thấy vậy, N liền chạy đến và bị P cầm dao chém về phía N theo hướng từ trên xuống, từ phải sang trái trúng vào vùng chẩm trái của N. Lúc này, N tiếp tục xông vào, dùng hai tay ôm lấy tay P và nói “anh P ơi, thả dao ra đi”, hai bên giằng co một lát thì P thả dao ra rồi đi vào trong nhà; còn D, N được chở đi cấp cứu, K chạy về nhà báo với gia đình trình báo công an đến làm việc.
* Vật chứng tạm giữ: 01 con dao dài 46cm, có cán gỗ dài 15cm, lưỡi bằng kim loại dài 31cm; 02 cây gỗ loại palett, dài 1m2 (đã bị hư hỏng).
- Theo Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 835/KL-KTHS ngày 29 tháng 5 năm 2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Huỳnh Ngọc D là 11%.
- Theo Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 836/KL-KTHS ngày 22 tháng 5 năm 2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Huỳnh Ngọc N là 4%. Các tổn thương của Huỳnh Ngọc D và Huỳnh Ngọc N do vật sắc gây nên.
Tại bản cáo trạng số 111/CT-VKSCL ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Huỳnh Ngọc P về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Về TNHS: Áp dụng các điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo
- + Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015, Điều 106 Bộ luật TTHS đề nghị HĐXX tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao dài 46cm, có cán bằng gỗ dài 15cm, lưỡi bằng kim loại dài 31cm; 02 (Hai) cây gỗ loại palett, dài 1m2 (đã bị hư hỏng) không còn giá trị sử dụng.
- Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ việc xảy ra, các bị hại Huỳnh Ngọc D và Huỳnh Ngọc N yêu cầu bồi thường dân sự với số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) bị cáo đã bồi thường theo yêu cầu của các bị hại, các bị hại đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu gì thêm nên không đề cập giải quyết.
- Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Ngọc P khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó HĐXX có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 20 giờ ngày 22 tháng 4 năm 2023, tại khu vực trước nhà số D đường N, tổ D, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, Huỳnh Ngọc P có hành vi sử dụng 01 con dao dài 46cm, có cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại chém gây thương tích cho anh Huỳnh Ngọc D với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11%.
Hành vi phạm tội của bị cáo Huỳnh Ngọc P dùng dao chém Huỳnh Ngọc D gây thương tích 11% (Mười một phần trăm). Do đó có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo phạm tội: “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS 2015 như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội nên cần phải xử phạt bị cáo tương xứng với mức độ, hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra.Tuy nhiên,trong vụ án này mối quan hệ giữa bị cáo và người bị hại là anh em con chú, bác ruột với nhau, nguyên nhân xảy ra sự việc là do ngồi ăn uống cùng nhau mâu thuẫn trong cách nói chuyện, người bị hại cũng có một phần lỗi là đứng trước nhà bị cáo chửi bới, khiêu khích bị cáo, sau khi sự việc xảy ra sự việc bị hại có đơn yêu cầu không khởi tố vụ án hình sự đối với bị cáo, không yêu cầu bồi thường thiệt hại, nhưng sau đó bị cáo tự nguyện bồi thường số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) cho người bị hại, người bị hại đã nhận đủ tiền và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện khắc phục hậu quả. Do đó, cần cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
HĐXX xét thấy bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, có 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 ( người bị hại xin giảm nhẹ TNHS cho bị cáo, mẹ bị cáo thường xuyên đau ốm, người bị hại cũng có một phần lỗi là chửi bới, khiêu khích bị cáo ) từ trước đến nay chấp hành tốt pháp luật và các nghĩa vụ tại địa phương. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, là lao động chính trong gia đình. Xét thấy không cần thiết phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù vẫn có khả năng cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, HĐXX quyết định cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo về UBND nơi bị cáo đang sinh sống giám sát giáo dục cũng có tác dụng răn đe đối với bị cáo đồng thời thể hiện tính khoan hồng của pháp luật
[4] Đối với các đối tượng liên quan:
Đối với Huỳnh Ngọc D, Huỳnh Ngọc N có hành vi xô xát với bị cáo Huỳnh Ngọc P nhưng không gây hậu quả nên Cơ quan điều tra Công an quận C chuyển hồ sơ đến Công an quận C ra Quyết định xử phạt Vi phạm hành chính. (BL 233 và 236)
Đối với Huỳnh Ngọc K có hành vi dùng mũ bảo hiểm ném trúng mặt Huỳnh Thị Ngọc P2 nhưng không để lại thương tích nên Cơ quan điều tra Công an quận C chuyển hồ sơ đến Công an quận C ra Quyết định xử phạt Vi phạm hành chính. (BL 232)
Đối với Huỳnh Thị Ngọc Q1 có hành vi dùng ghế nhựa đánh vào người Huỳnh Ngọc K nhưng chưa gây thương tích cho K nên Cơ quan điều tra Công an quận C chuyển hồ sơ đến Công an quận C ra Quyết định xử phạt Vi phạm hành chính. (BL 234)
Hành vi Huỳnh Thị Ngọc Q1 dùng 02 cây gỗ pallet đánh về phía Doanh, N, K nhưng không trúng ai nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý
Đối với chiếc mũ bảo hiểm Khứ dùng ném trúng mặt P2, K khai đã đánh rơi nhưng không rõ vị trí nên không có cơ sở để truy tìm.
Đối với chiếc ghế Q1 dùng để đánh K, Q1 khai để lại hiện trường. Cơ quan công an đã tiến hành truy tìm nhưng không tìm thấy.
[5] Đánh giá về vật chứng, xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao dài 46cm, có cán bằng gỗ dài 15cm, lưỡi bằng kim loại dài 31cm; 02 (Hai) cây gỗ loại palett, dài 1m2 (đã bị hư hỏng)
[6] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên HĐXX không xem xét.
[7] Về án phí: Căn cứ Điều 136 của bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của HĐXX nên HĐXX chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Ngọc P phạm tội: “Cố ý gây thương tích”
Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc P 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/12/2023).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (Hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên HĐXX không đề cập đến.
- Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào Điều 47 BLHS năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao dài 46cm, có cán bằng gỗ dài 15cm, lưỡi bằng kim loại dài 31cm; 02 (Hai) cây gỗ loại palett, dài 1m2 (đã bị hư hỏng)
(Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 12 năm 2023 giữa công an quận quận C, thành phố Đà Nẵng và Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng).
- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo, những người tham gia tố tụng tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người tham gia tố tụng khác vắng mặt có quyền kháng cáo với thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Hai |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
7
Bản án số 103/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 103/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Huỳnh Ngọc Phú phạm tôi cố ý gây thương tích
