TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 103/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27/12/2023.
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
và chia tài sản khi ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Thu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thuý Hà.
- Ông Lâm Thái Hiệp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nhã Trúc, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Kha - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 296/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2023 về “ly hôn, tranh chấp về nuôi con và chia tài sản khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Mỹ X, sinh ngày 07/5/1999 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Minh V, sinh ngày 05/5/1997 (có đơn xin vắng)
Địa chỉ: Ấp C, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Quách Thị Cẩm L, sinh năm 1958 (có đơn xin vắng).
Địa chỉ: Ấp B, xã VA, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 10 năm 2023 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ X trình bày: Chị X và anh V xây dựng hôn nhân vào năm 2020 và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã VA, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Quá trình chung sống, chị X và anh V có một người con chung là Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 15/6/2021. Hiện nay, cháu C đang sống cùng chị X. Về tài sản chung, anh V và chị X có tài sản chung gồm 01 ti vi, 01 máy lạnh, 01 máy giặt và 1,7 chỉ vàng 24K, do anh V đang quản lý. Về nợ chung, có nợ bà Quách Thị Cẩm L số tiền là 4.300.000 đồng. Ngoài ra, anh chị không còn tài sản chung và nợ chung nào khác.
Quá trình chung sống, chị X và anh V không cùng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và cãi nhau khiến cuộc sống tình cảm vợ chồng rạn nứt không thể hàn gắn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được. Chị và anh V đã ly thân từ tháng 10/2023 đến nay mà không có biện pháp hàn gắn mối quan hệ vợ chồng.
Vì vây, nay chị X yêu cầu ly hôn với anh V. Về con chung, chị X yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu C và yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con với mức cấp dưỡng là 1.000.000 đồng/tháng. Về tài sản chung và nợ chung, chị và anh V cùng bà L đã tự thoả thuận nên chị xin rút phần yêu cầu khởi kiện về việc chia tài sản chung và nợ chung. Ngoài ra, chị không yêu cầu gì khác.
Bị đơn, anh Nguyễn Minh V trình bày tại biên bản lấy lời khai và biên bản hoà giải ngày 28/11/2023: Anh thống nhất với lời trình bày của chị X về hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Quá trình chung sống, anh và chị X không cùng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và cãi nhau khiến cuộc sống tình cảm vợ chồng rạn nứt không thể hàn gắn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được.
Tuy nhiên, anh V không đồng ý ly hôn vì còn thương vợ con. Trường hợp, có căn cứ cho ly hôn thì về con chung, anh V đồng ý giao cháu C cho chị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu C và đồng ý cấp dưỡng nuôi con với mức cấp dưỡng 1.000.000 đồng/tháng. Về tài sản chung và nợ chung, anh và chị X cùng mẹ vợ đã tự thoả thuận nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Ngoài ra, anh V không yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Quách Thị Cẩm L trình bày tại biên bản lấy lời khai và biên bản hoà giải ngày 28/11/2023: Chị X và anh V có vay bà số tiền 4.300.000 đồng. Ngoài ra, không còn giao dịch về tiền bạc nào khác. Bà và chị X, anh V đã thoả thuận được về việc trả nợ nên bà không đặt ra tranh chấp hay yêu cầu gì. Bà đồng ý với việc chị X rút yêu cầu khởi kiện về việc chia nợ chung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu trình bày việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại các Điều 70, 71, 72, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị X đối với anh V. Về con chung, giao cháu Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 15/6/2021 cho chị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục. Anh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con, buộc anh V cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 15/6/2021 với mức cấp dưỡng 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng kể từ ngày 27/12/2023. Về tài sản chung và nợ chung: Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của chị X về việc yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung. Về án phí, các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền: Chị Trần Thị Mỹ X nộp đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Minh V. Khi khởi kiện, anh V có địa chỉ tại ấp C, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện H thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Anh Nguyễn Minh V là bị đơn và bà Quách Thị Cẩm L là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có văn bản yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh V và bà L theo quy định khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về hôn nhân: Chị Trần Thị Mỹ X và anh Nguyễn Minh V tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã VA, huyện H, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn số 46/2020 ngày 31 tháng 8 năm 2020 nên hôn nhân giữa chị X và anh V là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
[4] Chị Trần Thị Mỹ X và anh Nguyễn Minh V đều xác định trong thời gian chung sống, giữa chị X và anh V bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cãi nhau khiến cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị X và anh V đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2023 đến nay mà không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, anh V không đồng ý ly hôn với chị X vì còn thương vợ con. Xét thấy, hôn nhân tồn tại bền vững thì phải dựa trên cơ sở tự nguyện, vợ chồng phải biết yêu thương, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau cùng nhau xây dựng gia đình phát triển. Chị X và anh V đều xác định cuộc sống hôn nhân giữa anh chị đã không còn hạnh phúc, mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị X yêu cầu được ly hôn với anh V là có căn cứ, phù hợp với quy định khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[5] Về con chung: Chị X và anh V đều xác định, quá trình chung sống, anh chị có một người con chung là cháu Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 15/6/2021. Hiện nay, cháu đang sống cùng chị X. Xét thấy, việc giao con cho ai nuôi là phải xem xét toàn diện, đảm bảo điều kiện cho con chưa thành niên. Hiện nay, cháu C đang có cuộc sống ổn định cùng chị X. Chị X và anh V cũng thống nhất giao cháu C cho chị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Do đó, cần giao cháu Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 15/6/2021 cho chị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Anh Nguyễn Minh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị X yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con với mức cấp dưỡng là 1.000.000 đồng/tháng. Anh V đồng ý với yêu cầu của chị X. Do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị X. Buộc anh Nguyễn Minh V cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 15/6/2021 với mức cấp dưỡng 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 27/12/2023.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: Chị X tự nguyện rút yêu cầu về việc chia tài sản chung và nợ chung nên cần đình chỉ yêu cầu khởi kiện của chị X về việc chia tài sản chung gồm 01 tivi, 01 máy lạnh, 01 máy giặt, 1,7 chỉ vàng 24K và số tiền nợ bà L là 4.300.000 đồng.
Các đương sự không yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung nên không xem xét, giải quyết.
[7] Án phí dân sự sơ thẩm: Chị X phải chịu 300.000 đồng tiền án phí về hôn nhân gia đình. Chị X đã nộp tạm ứng án phí 671.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0007344 ngày 06/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bạc Liêu nên được chuyển thu án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) và được hoàn lại số tiền chênh lệch 371.000 đồng (ba trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
Anh Nguyễn Minh V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
[8] Từ những phân tích trên chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tại phiên tòa.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 217, Điều 218 khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, các Điều 53, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Mỹ X đối với anh Nguyễn Minh V. Xử cho chị Trần Thị Mỹ X được ly hôn với anh Nguyễn Minh V.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 15/6/2021 cho chị Trần Thị Mỹ X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Anh Nguyễn Minh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Nguyễn Minh V có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 15/6/2021 với mức cấp dưỡng 1.000.000 đồng (Một triệu đồng)/tháng. Thời gian cấp dưỡng kể từ ngày 27 tháng 12 năm 2023 cho đến khi cháu Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 15/6/2021 tròn 18 tuổi.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Mỹ X về việc yêu cầu chia 01 tivi, 01 máy lạnh, 01 máy giặt, 1,7 chỉ vàng 24K và số tiền nợ bà Quách Thị Cẩm L là 4.300.000 đồng.
Các đương sự không yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung nên không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình: Chị X phải chịu 300.000 đồng, chị X đã nộp tạm ứng án phí 671.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0007344 ngày 06/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bạc Liêu nên được chuyển thu án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) và được hoàn lại số tiền chênh lệch 371.000 đồng (ba trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
Án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng: Anh Nguyễn Minh V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
5. Đương sự có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Lệ Thu |
Bản án số 103/2023/HNGĐ-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẠC LIÊU về ly hôn, tranh chấp về nuôi con và chia tài sản khi ly hôn
- Số bản án: 103/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con và chia tài sản khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cho ly hôn và giao con cho mẹ
