Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2024/HS-ST

Ngày 26 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Đức Việt

Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích

Thư ký phiên toà: Ông Phùng Mạnh Cường – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Hải- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 90/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 11/2024/HSST-QĐ ngày 19/8/2024 với các bị cáo:

1. ĐOÀN XUÂN Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 25 tháng 5 năm 1985 tại huyện B, tỉnh Lào Cai; Đăng ký thường trú: Thôn A, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 4/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ không xác định, bố dượng Đỗ Văn L, mẹ đẻ bà Đoàn Thị V. Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Về nhân thân: Bản án số 17/HSST ngày 17/12/2002 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng; Bản án số 01/HSST ngày 24/01/2008 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” xử phạt 09 tháng tù. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và đã được xóa án tích.

Bị cáo hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại thôn A, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

2. NGUYỄN VIẾT C; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 10 tháng 01 năm 1979 tại thành phố Y, tỉnh Yên Bái; Đăng ký thường trú: Tổ B, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Kim C và bà Hoàng Thị G. Bị cáo có vợ thứ nhất Trịnh Thị H (Đã ly hôn), vợ thứ hai Vàng Thị C1 (Đã ly hôn), vợ thứ ba Lâm Thị D. Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 12/4/2024, tạm giam ngày 18/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 12/4/2024 tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố L kiểm tra và phát hiện Nguyễn Viết C2 đang dừng đỗ xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 16F2 – 0870 tại ven đường L, phường B, thành phố L cất giấu ma túy trong túi quần phía sau bên trái đang mặc. Nguyễn Viết C2 đã tự nguyện giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa các chất bột khô vón cục, màu trắng và khai nhận là ma túy Heroine của bản thân mục đích để sử dụng. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 16F2 – 0870.

Sau khi bị bắt, Nguyễn Viết C2 khai nhận đã mua ma túy Heroine của Đoàn Xuân Q với giá 200.000 đồng. Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 12/4/2024 tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố L kiểm tra và phát hiện Đoàn Xuân Q cất giấu 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục khi bị cáo đang ngồi xe lăn tại khu vực đường A thuộc tổ A, phường C, thành phố L, Đoàn Xuân Q khai nhận là ma túy H1 cất giấu với mục đích để bán kiếm lời. Ngoài số ma túy thu giữ còn tạm giữ của Đoàn Xuân Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi gắn sim số thuê bao 0787 468 223 (Đã qua sử dụng).

Kết luận giám định số 159/GĐMT ngày 17/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận đối với số ma túy thu giữ của Nguyễn Viết C2: 0,144 (Không phẩy một trăm bốn mươi bốn) gam các cục chất bột khô màu trắng gửi giám định là loại chất ma túy Heroine.

Kết luận giám định số 160/GĐMT ngày 17/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận đối với số ma túy thu giữ của Đoàn Xuân Q: 0,099 (Không phẩy không trăm chín mươi chín) gam các cục chất bột khô màu trắng gửi giám định là loại chất ma túy Heroine.

Quá trình điều tra Đoàn Xuân Q và Nguyễn Viết C2 khai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 12/4/2024, Nguyễn Viết C2 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Redmi gắn sim 0967 607 497 gọi cho Đoàn Xuân Q số điện thoại 0787.468.xxx để hỏi mua 200.000 đồng ma túy. Khoảng 13 giờ 05 phút cùng ngày, Đoàn Xuân Q đi xe lăn đến khu vực sân bóng đá thuộc tổ B, phường C, thành phố L tìm và mua được 01 gói ma túy của một người nam giới tên B với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Đoàn Xuân Q dùng móng tay chia thành 02 phần gói lại thành 02 gói và hẹn Nguyễn Viết C2 đến ngã tư đường H giao với đường T và bán cho Nguyễn Viết C2 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Số ma túy còn lại, Đoàn Xuân Q tiếp tục đi tìm người để bán kiếm lời thì bị bắt giữ.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, tang vật thu giữ và kết luận giám định.

Cáo trạng số 90/CT-VKS ngày 19/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Đoàn Xuân Q về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, bị cáo Nguyễn Viết C2 về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đoàn Xuân Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm p, s khoản 1 Điều 51 - Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đoàn Xuân Q từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết C2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 - Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Viết C2 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Đề nghị xử lý vật chứng vụ án, T án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 12/4/2024, bị cáo Nguyễn Viết C2 đã có hành vi mua 0,144 gam Heroine của Đoàn Xuân Q để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện và bắt quả tang; Bị cáo Đoàn Xuân Q đã có hành vi mua 0,243 gam ma túy Heroine nhằm mục đích để bán kiếm lời và đã bán cho Nguyễn Viết C2 0,144 gam Heroine với giá 200.000 đồng, số ma túy còn lại bị cáo cất giấu với mục đích để bán kiếm lời thì bị phát hiện, do đó, bị cáo Đoàn Xuân Q phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy với tổng khối lượng ma túy đã bán cho Nguyễn Viết C2 và ma túy cất giấu trên người là 0,243 gam. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Đoàn Xuân Q đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, hành vi của bị cáo Nguyễn Viết C2 đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng: Các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết pháp luật, mặc dù biết việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo thiếu ý thức chấp hành, cố ý thực hiện hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố L. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật, cần áp dụng hình phạt tù, có mức án tương xứng với hành vi phạm tội, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đoàn Xuân Q thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội; Bị cáo là người khuyết tật mức độ đặc biệt nặng được hưởng trợ cấp xã hội theo quyết định số 5739/QĐ-UBND ngày 03/8/2016 của UBND huyện B, tỉnh Lào Cai. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p, s khoản 1 Điều 51- Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Viết C2 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51- Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật.

Về nhân thân: Bị cáo Đoàn Xuân Q là người có nhân thân xấu. Tại bản án số 17/HSST ngày 17/12/2002 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng; Bản án số 01/HSST ngày 24/01/2008 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” xử phạt 09 tháng tù. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt của các bản án và đã được xóa án tích.

[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát 16F2-0870 quá trình điều tra xác định chiếc xe là tài sản của bị cáo Nguyễn Viết C2, bị cáo không dung làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp, tuy nhiên, bị cáo còn phải thi hành khoản tiền án phí nên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án; Đối với 0,103 gam Heroine (Thu giữ của Nguyễn Viết C2 khi bắt quả tang) và 0,066 gam Heroine (Thu giữ của Đoàn Xuân Q) còn lại sau giám định thuộc danh mục các chất Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, số I: 860359064620460/00 (Đã qua sử dụng) tạm giữ của Nguyễn Viết C2 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, số I: 867406040679996/01 gắn kèm thẻ sim số thuê bao 0787 468 223 (Đã qua sử dụng) tạm giữ của Đoàn Xuân Q là tài sản của các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, vì vậy, cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

[7] Về các vấn đề khác: Đối với người nam giới tên B đã bán ma túy cho Đoàn Xuân Q ngày 12/4/2024, ngoài lời khai của bị cáo, không có tài liệu chứng cứ để chứng minh. Do vậy, khi nào điều tra làm rõ sẽ xử lý sau;

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136- Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điểm p, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Đoàn Xuân Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Đoàn Xuân Q 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết C2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Nguyễn Viết C2 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo 12/4/2024.

2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,103 (Không phẩy một trăm linh ba) gam chất ma tuý Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng K Công an tỉnh L, trên một mặt bì thư có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Viết C2 tại tổ D, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai ngày 12/4/2024”; Tịch thu tiêu hủy 0,066 (Không phẩy không trăm sáu mươi sáu) gam chất ma tuý Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng K Công an tỉnh L, trên một mặt bì thư có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Đoàn Xuân Q tại tổ A, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai ngày 12/4/2024"

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, số I: 860359064620460/00 (Đã qua sử dụng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, số I: 867406040679996/01 gắn kèm thẻ sim số thuê bao 0787 468 223 (Đã qua sử dụng).

Tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 16F2-0870, số khung: C100M-8008935, số máy: C100ME-8008935 (Đã qua sử dụng, xe bị vỡ nứt, trầy xước thân vỏ) thu giữ của Nguyễn Viết C2 để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/8/2024)

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự".

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lào Cai (1);
  • - TAND tỉnh Lào Cai (1);
  • - VKSND TP. Lào Cai (1);
  • - Sở Tư pháp (1); Nhà TG;
  • - CQCSĐT CATP (1);
  • - Bị cáo (2);
  • - THA DS TP. Lào Cai (1);
  • - HS THA HS (1);
  • - Lưu văn phòng (1)
  • - Lưu hồ sơ vụ án (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2024/HS-ST ngày 26/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 103/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ĐOÀN XUÂN Q, NGUYỄN VIẾT C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger