Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NINH BÌNH

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2024/HS-ST

Ngày 26/07/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Việt Thanh
  • Các hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Đình Phương – Ông Phạm Ngọc Lợi
  • Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Linh Chi - Thư ký viên chính Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Lịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 86/2024/HS-ST ngày 18/06/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2024/QĐXXST-HS ngày 12/07/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Mai Xuân C, sinh năm:1987, tại Ninh Bình. Nơi ĐKNKTT: phố C, phường V, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú: thôn D, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa lớp: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Mai Xuân H và con bà: Nguyễn Thị T; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án: Tại bản án số 10/2006/HSST ngày 23/2/2006 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 15 tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”. Ra trại ngày 06/01/2007; Bản án số 104/2007/HSST ngày 19/9/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ra trại ngày 04/01/2009; Bản án số 206/2009/HSST ngày 21/5/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ra trại ngày 11/11/2014; Bản án số 117/2015/HSST ngày 27/11/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy ". Ra trại ngày 02/7/2022.

Tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/01/2024 đến ngày 24/01/2024 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay, có mặt.

2. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Mai Xuân H, sinh năm: 1965. Có mặt
  • Trú tại: thôn D, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định
  • Chị Hoàng Thị T1, sinh năm: 2005. Có mặt.
  • Nơi cư trú: thôn C, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
  • Anh Lê Văn S, sinh năm: 1989. Vắng mặt.
  • Nơi cư trú: số nhà H, đường C, phố F, phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.
  • Chị Phan Thị Nhật L, sinh năm: 2005. Vắng mặt.
  • Nơi cư trú: thôn K, xã K, huyện T, tỉnh Yên Bái.
  • Chị Bùi Thị H1, sinh năm: 1995. Vắng mặt.
  • Nơi cư trú: xã Đ, huyện N, tỉnh Ninh Bình.
  • Anh Vũ Văn B, sinh năm: 1984. Vắng mặt.
  • Nơi cư trú: thôn V, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.
  • Anh Lê Trọng Đ, sinh năm: 1997. Vắng mặt.
  • Nơi cư trú: số nhà C, đường Đ, phố B, phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.
  • Chị Bùi Thùy T2, sinh năm: 1997. Vắng mặt.
  • Nơi cư trú: số nhà C, đường Đ, phố B, phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.

2.3 Người làm chứng:

  • Anh Phạm Đức A, sinh năm: 1998. Vắng mặt.
  • -Anh Lê Văn N, sinh năm: 1980. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 23 giờ 40 phút ngày 14/01/2024, Tổ công tác Công tác Công an thành phố N tiến hành kiểm tra vũ trường Newlife Club tại phố B, phường N, thành phố N phát hiện tại bàn S4 có các đối tượng Mai Xuân C, Lê Văn S, Hoàng Thị T1, Lê Trọng Đ, Bùi Thùy T2, Bùi Thị H1, Vũ Văn B, Phan Thị Nhật L và Phạm Đức A, sinh năm 1998, trú tại phố Đ, phường N, thành phố N (Là nhân viên phục vụ của vũ trường) đang sử dụng ma tuý. Tiến hành khám xét khẩn cấp vũ trường Newlife Club, phát hiện và thu giữ tại khu vực bàn S4 gồm:

  • - Tại vị trí phía dưới mép bàn phía trong bên trái có 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng được gấp hình vuông, mở bên trong có chứa chất tinh thể, bột màu trắng; 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng cuộn hình ống được cố định bằng vỏ đầu lọc thuốc lá, bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng được niêm phong vào phòng bì ký hiệu K1;

Thu giữ tại vị trí túi quần bên trái phía trước của Lê Trọng Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng lắp sim 0904.769.802; túi quần bên phải phía trước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, lắp sim 0522.228.688; túi quần bên phải phía sau 01 ví giả da màu đen bên trong có số tiền 1.500.000 đồng và 01 căn cước công dân mang tên Lê Trọng Đ; Thu giữ tại vị trí túi quần bên trái phía trước của Mai Xuân C 01 túi nilon màu trắng, viền màu đỏ, kích thước khoảng (4 x 6) cm chứa chất tinh thể dạng cục màu trắng; 01 túi nilon màu trắng viền đỏ kích thước khoảng (5 x 7) cm chứa 02 viên dạng nén màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone lắp sim 0904.719.xxx; Thu giữ trong túi xách giả da màu đen có hoa văn của Bùi Thùy T2 để trên ghế bên trái sát tường số tiền 2.700.000 đồng, 01 căn cước công dân mang tên Bùi Thùy T2 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh, lắp sim 0888.931.997; Thu giữ trong túi quần bên phải phía trước của Vũ Văn B số tiền 800.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu tím lắp sim 0815.726.135; T3 tại vị trí phía dưới mép bàn phía trong bên phải 01 tờ tiền 1.000 đồng được gấp lại, mở bên trong có chất tinh thể màu trắng; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 07cm bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng; Thu giữ trên mặt sàn sau ghế ngồi của bàn S4 01 mảnh chất dẻo màu cam.

Thu giữ của Bùi Thị H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng lắp sim 0379.655.363; Thu giữ của Hoàng Thị T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen lắp sim 0383.471.354;Thu giữ của Phan Thị Nhật L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, lắp sim 0825.202.532; Thu giữ của Lê Văn S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu tím, lắp sim 0789.027.062; Thu giữ của Phạm Đức A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh lắp sim 0857.898.181 và sim 0987.096.520; 01 đồng hồ nhãn hiệu Apple Watch.

Tiến hành lấy mẫu chất tinh thể màu trắng bám dính trong lỗ mũi của Vũ Văn B cho vào túi nilon ký hiệu K8. Tiến hành lấy mẫu chất tinh thể màu trắng bám dính trong lỗ mũi của Lê Văn S cho vào túi nilon ký hiệu K9. Tiến hành lấy mẫu chất tinh thể màu trắng bám dính trong lỗ mũi của Hoàng Thị T1 cho vào túi nilon ký hiệu K10.

Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ và khám xét xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3 màu đỏ, biển kiểm soát 35A-326.85 đỗ trước cửa vũ trường: Thu giữ 01 ví giả da màu đen bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Lê Văn S; số tiền 23.850.000 đồng; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 4453344; Thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 25U1-082.61 tại vị trí hông bên trái vũ trường; Thu giữ 01 xe ô tô nhãn hiệu Vinfast, màu đỏ biển kiểm sát 30G-999.03 tại vị trí phía trước cửa Vũ trường.

Khám xét phòng bên phải từ cửa vào phát hiện thu giữ 12 cây thuốc lá nhãn hiệu 555; 01 bình khí nén vỏ kim loại sơn màu trắng loại 30kg; 01 bình ký nén vỏ kim loại màu xanh loại 48,1kg

Tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với các đối tượng có liên quan, kết quả: Mai Xuân C, Lê Văn S, Bùi Thị H1, Lê Trọng Đ, Bùi Thùy T2, Vũ Văn B đều dương tính với chất ma túy loại MDMA, Methamphetamine, Ketamine; Hoàng Thị T1 dương tính với chất ma túy loại Ketamine; Phan Thị Nhật L dương tính với chất ma túy loại MDMA, Ketamine.

Tiến hành cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng trong tờ tiền 1.000 đồng được gấp hình vuông có khối lượng 0,48 gam, ký hiệu M1; chất tinh thể màu trắng trong túi nilon màu trắng viền đỏ kích thước (4x6) cm có khối lượng 2,105 gam, ký hiệu M2; 02 dạng viên nén màu trắng có khối lượng 0,895 gam, ký hiệu M3; chất tinh thể màu trắng trong tờ tiền 1.000 đồng gấp đôi có khối lượng 0,18 gam, ký hiệu M4; Mảnh chất dẻo màu cam có khối lượng 0,235 gam, ký hiệu M5. Gửi giám định các mẫu ký hiệu M1, M2, M3, M4, M5 cùng với 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng cuộn hình ống được cố định bằng vỏ đầu lọc thuốc lá bên trong bám dính chất bột màu trắng; 01 ống hút nhựa màu trắng dài khoảng 07 cm bám dính chất bột màu trắng; chất bột màu trắng bám dính trong lỗ mũi của Lê Văn S, Vũ Văn B và Hoàng Thị T1 ký hiệu lần lượt là K8, K9, K10 để xác định chất ma túy và khối lượng ma túy.

Quá trình điều tra, Mai Xuân C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: bản thân là người sử dụng ma túy, ngày 10/01/2024, Mai Xuân C đi đến khu vực bến xe khách G, thành phố Hà Nội mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi nilon màu trắng có kích thước khoảng (4 x 6) cm viền màu đỏ bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy “ke” và 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (5 x 7) cm bên trong chứa 08 viên nén màu trắng là ma túy “kẹo” với số tiền 4.500.000 đồng. Mai Xuân C mang về nhà tại thôn D, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định cất giấu trong bếp với mục đích để sử dụng.

Khoảng 16 giờ ngày 14/01/2024, Mai Xuân C cùng với Hoàng Thị T1, và một người nam giới tên B1 đều là bạn của C cùng ăn tại quán L1, thuộc đường N, phường T, thành phố N. Lúc này có Lê Văn S, là bạn của C gọi điện đến nói có Phan Thị Nhật L, là bạn gái của S) đang từ thành phố Hà Nội về Ninh Bình, thấy vậy C rủ S, T1 và B1 đến vũ trường N tại phường N, thành phố N để nghe nhạc, S đồng ý. Biết S cũng là người sử dụng ma túy nên C nảy sinh ý định mang số ma túy đã mua từ trước lên vũ trường để cùng sử dụng. C bảo T1 ngồi đợi tại quán ăn còn C đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 25U-082.61 về nhà để lấy ma túy đã mua ngày 10/01/2024 bỏ vào túi quần rồi điều khiển xe mô tô quay lại đón T1. Khoảng 21 giờ cùng ngày, C chở T1 đến vũ trường Newlife C1 và gọi điện bảo S đến. Khoảng 20

phút sau, S điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3 biển kiểm soát 35A-326.85 đi đến vũ trường N. Lúc này, Bùi Thị H1, là bạn của C và S đi taxi đến rồi cùng C, S và T1 vào trong vũ trường ngồi tại bàn S4. Khi đang uống bia thì có Vũ Văn B, Lê Trọng Đ và Bùi Thùy T2 (là vợ của Đ) đều là bạn của C và S đến ngồi cùng cả nhóm.

Do có sẵn ma túy trong người nên C vào nhà vệ sinh lấy túi ma túy “kẹo” mở ra lấy 01 viên ma túy “kẹo” sử dụng. Sau đó, C lấy túi ma túy “ke” ra, đổ một nửa ra tờ tiền 1.000 đồng, dùng bật lửa hơ nóng rồi nghiền mịn. Số ma túy còn lại trong túi nilon C cất vào túi quần phía trước bên trái. C lấy tờ tiền 20.000 đồng cuộn thành ống hút rồi sử dụng ma túy “ke” trên tờ tiền 1.000 đồng. Sau khi sử dụng xong, C gấp tờ tiền 1.000 đồng chứa ma túy “ke” lại, cầm ra bàn S4 rồi để tờ tiền 1.000 đồng chứa ma túy “ke” vừa xào cùng ống hút bằng tờ tiền 20.000 đồng, đồng thời C lấy túi nilon chứa 07 viên ma túy “kẹo” để lên bàn. C nói: “Em có ít đồ, ai chơi thì chơi”. Thấy vậy S, B, T1, H1 và Đ mỗi người lấy 01 viên ma túy “kẹo”. Khoảng 30 phút, C tiếp tục lấy túi ma túy “ke” đổ một ít ra tờ tiền 1.000 đồng để xào ma túy sau đó sẻ một nửa sang 01 tờ tiền 1.000 đồng khác rồi để cạnh bàn gần chỗ T1, H1 và T2 đang ngồi. Lúc này, cả nhóm lần lượt lấy ma túy “ke” trong 02 tờ tiền 1.000 đồng của C để ở cạnh bàn tự sử dụng. Khi cả nhóm đang ngồi nghe nhạc thì có Phan Thị Nhật L đi đến ngồi cùng. Lệ thấy ma túy “ke” trên bàn đã tự lấy sử dụng. C thấy còn 02 viên ma túy “kẹo” trong túi nilon để ở cạnh bàn thì cất vào túi quần phía trước bên trái để sử dụng và tiếp tục cả nhóm ngồi nghe nhạc. Sau đó đến 23h 40 cùng ngày là bị phát hiện bắt giữ.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N trưng cầu Phòng K Công an tỉnh N giám định thành phần và khối lượng các chất đã thu giữ nêu trên.

Tại bản Kết luận giám định số 191/KL-KTHS-MT ngày 24/01/2024 của phòng K Công an tỉnh N kết luận:

Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,4754 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 2,1008 gam, ký hiệu M4 có khối lượng 0,1785 gam đều là ma túy, loại Ketamine. Mẫu chất dạng tinh thể bột màu trắng bám dính trong ống hút nhựa màu trắng và tờ tiền 20.000 đồng được cuộn tròn là ma túy, loại Ketamine; Lượng Ketamine bám dính đều ít, không xác định được khối lượng. Mẫu chất bột màu trắng bám dính gửi giám định ký hiệu K8, K9, K10 đều là ma túy, loại Ketamine. Lượng Ketamine bám dính đều ít, không xác định được khối lượng. Ketamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục III, số thứ tự 40; nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Mẫu ký hiệu M3 có khối lượng 0,8943 gam là ma túy, loại MDMA. MDMA là chất ma túy có số thứ tự 11, thuộc bảng Danh mục IB, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Mẫu ký hiệu M5 có khối lượng 0,2342 gam, không phải là ma túy.

H2 lại đối tượng giám định gồm chất tinh thể bột màu trắng của các mẫu ký hiệu M1, M2, M4; Chất bột màu trắng của mẫu ký hiệu M3; Mảnh chất dẻo màu cam ký hiệu M5; 01 ống hút nhựa màu trắng; 01 tờ tiền 20.000 đồng cùng các vỏ túi nilon, phong bì niêm phong ban đầu được niêm phong trong 04 phong bì thư theo quy định.

Tại bản Kết luận giám định số 506/KL-KTHS ngày 29/01/2024 của V Bộ C2, kết luận: Toàn bộ 12 câu thuốc lá (gồm 120 bao thuốc lá, mỗi bao đều chứa 20 điếu thuốc lá) (Ký hiệu K21) đều mang nhãn hiệu “BLEND NO.555 GOLD”, không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt gửi giám định là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “BLEND NO.555 GOLD”. Mẫu khí trong 02 bình khí bằng kim loại màu xanh (Ký hiệu K22, K23) gửi giám định đều là khí dinitrogen monoxide ( Nitrous oxide, N2O) hay còn gọi là “khí cười”.

Căn cứ khoản 1 và khoản 5, Điều 7, Thông tư số 37/2013/TT-BCT ngày 30/12/2013 của Bộ C3 “quy định nhập khẩu thuốc lá điếu, xì gà”; khoản 6, Điều 3 “hàng hóa nhập lậu” của Nghị định số 98/2020/NĐ- CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ: Tất cả các mẫu thuốc lá gửi giám định trên đều là thuốc lá điếu không đủ điều kiện để nhập khẩu lưu thông trên thị trường Việt Nam

Căn cứ Điều 3 và Điều 4 Thông tư liên tịch số 05/2013/TTLT-BYT-BCT ngày 08/02/2013 của Bộ Y và Bộ C3 “Thông tư liên tịch hướng dẫn việc ghi nhãn, in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá”; Điều 3 Thông tư số 23/2021/TT-BTC ngày 30/3/2021 của Bộ T6 “hướng dẫn về in, phát hành, quản lý và sử dụng tem điện tử rượu và tem điện tử thuốc lá”: Tất cả các mẫu thuốc lá gửi giám định trên đều là thuốc lá điếu không được Việt Nam sản xuất để tiêu thụ tại Việt Nam.

Tại bản Cáo trạng số 94/CT-VKS ngày 17/06/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Mai Xuân C về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo các điểm b, h khoản 2, khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Mai Xuân C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Ninh Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Mai Xuân C phạm tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng các điểm b, h khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Mai Xuân C từ 07 năm 03 tháng tù đến 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 14/01/2024.

Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 20.000đ và 02 tờ tiền mệnh giá 1.000đ.

Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ chất tinh thể mầu trắng còn lại trong các mẫu ký hiệu: M1; M2; M4; Chất bột mầu trắng trong mẫu ký hiệu M3; Mảnh chất dẻo mầu cam ký hiệu M5; 01 ống hút mầu trắng; các vỏ túi và các phong bì niêm phong ban đầu.

Bị cáo phải nộp án phí HSST và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Mai Xuân C không có ý kiến gì với Bản kết luận giám định; Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình; lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà bị cáo Mai Xuân C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, đơn đầu thú; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như vật chứng đã thu giữ; kết luận giám định và phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đủ căn cứ xác định đêm ngày 14/01/2024, tại vũ trường N, phố B, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, bị cáo Mai Xuân C có hành vi lấy ma túy loại MDMA và Ketamine cho Lê Văn S, Hoàng Thị T1, Lê Trọng Đ, Bùi Thùy T2, Bùi Thị H1, Vũ Văn B, Phan Thị Nhật L để sử dụng cùng với bị cáo C thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi tổ chức cho 07 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Mai Xuân C đã đủ yếu tố cấu thành tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; Tại bản án số 117/2015/HSST ngày 27 tháng 11 năm 2015 bị cáo Mai Xuân C bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm p khoản 2 và khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 là tội phạm rất nghiêm trọng, chưa được xoá án tích, nay lại tiếp tục phạm tội mới do cố ý, do vậy bị cáo bị truy tố và đưa ra xét xử theo điểm h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là “Tái phạm nguy hiểm” là đúng pháp luật. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai. Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo phải chịu mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

  • b) Đối với 02 người trở lên;
  • h) Tái phạm nguy hiểm.

5. Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Hành vi phạm tội của bị cáo mang tính nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, là một trong những nguyên nhân gia tăng các tệ nạn xã hội, phát sinh các tội phạm khác, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh và trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy nhưng bị cáo vẫn rấn thân vào con đường phạm tội, không những sử dụng cho bản thân mà bị cáo còn tổ chức cho những người khác sử dụng trái phép chất ma tuý, gây ra những hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Hội đồng xét xử thấy cần phải có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, hành vi mà bị cáo đã thực hiện mới có đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo góp phần phòng ngừa chung trong xã hội.

Khi lượng hình Hội đồng xét xử cần xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt cho bị cáo như sau: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; khi bị phát hiện hành vi phạm tội đã có đơn xin “ đầu thú” là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ nói trên để giảm một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy mục đích thoã mãn nhu cầu cá nhân, không có mục đích vụ lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[2] Các vấn đề khác:

  • Về nguồn gốc ma túy: bị cáo Mai Xuân C khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực bến xe G, thành phố Hà Nội. Bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ của người đàn ông này do vậy không có căn cứ xác minh làm rõ.
  • - Vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra cơ quan công an có thu giữ: Chất tinh thể mầu trắng, chất bột mầu trắng, mảnh chất dẻo mầu cam sau khi trích giám định, cơ quan đã giám định đã hoàn trả mẫu vật còn lại đây là những vật nhà nước cấm lưu hành; 01 ống hút mầu trắng; các vỏ túi và các phong bì niêm phong ban đầu cần tịch thu tiêu hủy. Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền mệnh giá 20.000₫ và 02 tờ tiền mệnh giá 1.000đ.
  • -Về tài sản đã thu giữ:

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone lắp sim 0904.719.xxx thu giữ của bị cáo Mai Xuân C, quá trình điều tra xác định đây là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội được trả lại cho C. Bị cáo C đã ủy quyền cho ông Mai Xuân H, sinh năm 1965, trú tại phố C, phường V, thành phố N là bố của C để nhận lại tài sản theo quy định. Ông H đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì.

Đối với số tài sản là điện thoại, đồng hồ, tiền, vật dụng cá nhân đã thu của các đối tượng Lê Văn S, Hoàng Thị T1, Lê Trọng Đ, Bùi Thùy T2, Bùi Thị H1, Vũ Văn B, Phan Thị Nhật L và Phạm Đức A, quá trình điều tra xác định đây là những đồ vật, tài sản không liên quan đến vụ án do vậy Công an thành phố N đã trả lại cho những người trên theo quy định.

Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3 màu đỏ, biển kiểm soát 35A-326.85 thu giữ trước cửa vũ trường và 01 giấy chứng nhận kiểm định số 4453344 bên trong xe, quá trình điều tra xác định chiếc xe và giấy chứng nhận kiểm định trên là của chị Trần Thị T4, sinh năm 1990, trú tại phố F, phường Đ, thành phố N là vợ cũ của Lê Văn S. Ngày 14/01/2024, Lê Văn S mượn chiếc xe trên của chị T4 sau đó đi đến vũ trường N1 và sử dụng ma túy tại đây chị T4 không biết. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại chiếc xe ô tô và giấy chứng nhận kiểm định trên cho chị T4 theo quy định.

Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu Vinfast, màu đỏ biển kiểm sát 30G-999.03 thu giữ tại vị trí phía trước của Vũ trường N2, quá trình điều tra xác định đây là xe ô tô của Lê Trọng Đ và không liên quan đến vụ án do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại cho Lê Trọng Đ theo quy định.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 25U1-082.61 có số khung: RLHJA3920NY295889, số máy: JA39E-2792799 tại vị trí hông bên trái vũ trường Newlife. Quá trình điều tra bị cáo C khai nhận đã sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi lấy ma túy mang đến đến vũ trường Newlife để sử dụng ma túy. Tiến hành tra cứu thông tin chủ xe mô tô trên xác định biển kiểm soát 25U1 – 082.61 có trong dữ liệu về hệ thống đăng ký xe tương ứng với

xe mô tô có biển kiểm soát 25U1-061.28 được đăng ký mang tên anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1986, trú tại bản S, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu. Xác minh tại xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu xác định anh Nguyễn Văn Q không có mặt tại địa phương. Do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra đã tách phần tài liệu liên quan đến chiếc xe mô tô trên để tiếp tục xác minh làm rõ.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại số tài sản đã thu giữ do không liên quan đến vụ án là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với Lê Văn S, Hoàng Thị T1, Lê Trọng Đ, Bùi Thùy T2, Bùi Thị H1, Vũ Văn B, Phan Thị Nhật L, quá trình điều tra xác định đêm ngày 14/01/2024 sau khi được bị cáo Mai Xuân C rủ đến vũ trường Newlife Club chơi và cùng sử dụng ma túy tại đây. Những người này không có hành vi giúp sức cho bị cáo C trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy, Công an thành phố N ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.500.000 đồng đối với mỗi đối tượng.

Đối với Phạm Đức A là nhân viên phục vụ của vũ trường Newlife Club. Ngày 14/01/2024, Đức A được phân công phục vụ bàn S4 nơi nhóm bị cáo Mai Xuân C đang ngồi. Tuy nhiên anh Đức A không biết việc nhóm bị cáo C đang sử dụng trái phép chất ma túy do vậy không có căn cứ xử lý đối với Phạm Đức A.

Đối với vũ trường Newlife Club là cơ sở kinh doanh thuộc công ty Cổ phần X do bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1957, trú tại phố F, phường Đ, thành phố N là giám đốc. Trong quá trình hoạt động, bà T5 đã ủy quyền cho con trai là anh Lê Văn N, sinh năm 1980, trú tại phố F, phường Đ, thành phố N làm quản lý điều hành việc kinh doanh của vũ trường. Vũ trường có nội quy quy định về việc không cho phép khách đến sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 14/01/2024, nhóm bị cáo Mai Xuân C có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại khu vực bàn S4 của vũ trường tuy nhiên anh N và nhân viên của vũ trường không biết. Do vậy không có căn cứ xử lý đối với anh Lê Văn N về hành vi “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Việc để cho khách sử dụng trái phép chất ma túy tại cơ sở kinh doanh do mình quản lý đã vi phạm điểm a, khoản 4, Điều 23, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ. Đối với 12 cây thuốc lá nhãn hiệu 555; 01 bình khí nén vỏ kim loại sơn màu trắng loại 30kg; 01 bình ký nén vỏ kim loại màu xanh loại 48,1kg, quá trình điều tra xác định số thuốc lá điếu trên là hàng hóa nhập lậu, 02 bình khí nén đều chứa khi dinitrogen monoxide hay còn gọi là “khí cười”. Quá trình điều tra, anh Lê Văn N khai nhận đã mua số thuốc lá và “khí cười” trên mạng xã hội Facebook từ đầu tháng 11/2023 để bán cho khách tại vũ trường. Anh N không nhớ đã mua của tài khoản

facebook nào do vậy không có căn cứ xác minh làm rõ. Đối với hành vi tàng trữ, buôn bán 120 bao thuốc lá điếu nhập lậu của anh Lê Văn N chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán hàng cấm” quy định tại Điều 190 Bộ luật hình sự. Đối với hành vi mua bán 120 bao thuốc lá điều nhập lâu và 02 bình nén “khí cười” của anh Lê Văn N đã vi phạm điểm b khoản 3 Điều 8 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ và khoản 6 Điều 17 Nghị định số 71/2019/NĐ-CP ngày 30/8/2019 của Chính phủ.

Công an thành phố N đã tham mưu cho UBND thành phố N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1743/QĐ-XPHC ngày 16/05/2024 là đúng quy định.

[3] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện công khai, hợp pháp đúng Pháp luật.

Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: các điểm b, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Mai Xuân C phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Mai Xuân C 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 15/01/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ chất tinh thể mầu trắng, chất bột mầu trắng, mảnh chất dẻo mầu cam sau khi trích giám định, cơ quan đã giám định đã hoàn trả; các vỏ túi và các phong bì niêm phong ban đầu; 01 ống hút mầu trắng. Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền mệnh giá 20.000đ và 02 tờ tiền mệnh giá 1.000đ.

(Vật chứng có đặc điểm theo như biên bản giao nhận vật chứng ngày 26 tháng 06 năm 2024 giữa Công an Thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Mai Xuân C phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận :

  • - TANDTỉnh Ninh Bình;
  • - VKSNDTP Ninh Bình;
  • - Chi Cục THADS thành phố Ninh Bình;
  • - Công an thành phố Ninh Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình;
  • - THA hình sự
  • - Bị cáo;
  • -Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trịnh Việt Thanh

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

Đặng Đình Phương – Phạm Ngọc Lợi

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trịnh Việt Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 103/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo C phạm tội theo các điểm b,h khoản 2 Điều 255
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger