|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 103/2024/HS-ST Ngày: 26 - 7 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Hoàng.
Bà Trần Thị Thanh Thảo.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 94/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn T, sinh ngày 10 tháng 9 năm 1998 tại Long An; Căn cước công dân: [...]; Nơi cư trú: Ấp B, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Không có; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không có; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn R và bà Nguyễn Thị P; Bản thân chưa có vợ, con; Tiền án: Bị cáo có 02 tiền án, tại bản án số: 34/2019/HSPT ngày 19 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An xử phạt bị cáo Lê Văn T 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Bị cáo chấp hành xong bản án ngày 03 tháng 02 năm 2021, chưa được xóa án tích; Tại bản án số: 34/2021/HSST ngày 07 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An xử phạt bị cáo Lê VLê Văn T1 ăn Thoàn 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong bản án ngày 24 tháng 8 năm 2023, chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không có; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27 tháng 4 năm 2024 đến nay, bị cáo có mặt.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1960, xin vắng mặt.
Nơi cư trú: Ấp R, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng:
- Ông Huỳnh Khánh D, sinh năm 1995, vắng mặt.
- Ông Đỗ Trường G, sinh năm 1995, vắng mặt.
- Ông Dương Văn T2, sinh ăm 1979 (vắng mặt).
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 27 tháng 4 năm 2024, bị cáo Lê Văn T1 đi bộ trên đường T hướng từ ngã tư S thuộc thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An đến ấp G, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An. Khi đi đến đoạn đường gần cổng ấp V, bị cáo T1 nhìn thấy 01 xe môtô hiệu Honda, loại Cub 50, màu xanh, biển kiểm soát 62-926CD, số máy 9016688, số khung 9016641 của bị hại Nguyễn Thị L đang dựng cặp lề đường nên nảy sinh ý định chiếm đoạt đem bán lấy tiền tiêu xài. Bị cáo T1 đi đến vị trí dựng xe môtô biển kiểm soát 62-926CD lén lút lấy chìa khóa xe để trên baga cắm vào ổ khóa xe, nổ máy rồi điều khiển xe chạy được khoảng 02m thì bị hại Nguyễn Thị L phát hiện truy hô. Lúc này, các ông Đỗ Trường G và Huỳnh Khánh D đang đi trên đường nghe truy hô nên đuổi theo bị cáo T1 được một đoạn khoảng 300m thì bị cáo T1 điều khiển xe môtô trượt ngã xuống đường, bị cáo T1 bị người dân bắt giao Công an thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữ trong quá trình điều tra gồm: 01 xe môtô hiệu Honda, loại Cub 50, màu xanh, biển kiểm soát 62-926CD, số máy 9016688, số khung 9016641.
Tại Kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐĐGTS ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: 01 xe môtô hiệu Honda, loại Cub 50, màu xanh, biển kiểm soát 62-926CD, số máy 9016688, số khung 9016641 trị giá 2.500.000đồng.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Long An đã tiến hành trao trả 01 xe môtô hiệu Honda, loại Cub 50, màu xanh, biển kiểm soát 62-926CD, số máy 9016688, số khung 9016641 cho chủ sở hữu hợp pháp là bị hại Nguyễn Thị L xong.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn T1 hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố, không đưa ra chứng cứ nào để minh oan chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại bản cáo trạng số: 96/CT-VKSĐH ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Lê Văn T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo Lê Văn T1 gây ra; Đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lê Văn T1 với mức hình phạt từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
3
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị L sau khi nhận lại tài sản xong không yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự nên không đề cập xem xét.
Về tang vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Long An đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp xong nên không đề cập xem xét.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử, các quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An và hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thư ký tòa án, Hội đồng xét xử sơ thẩm là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[1.2] Tại phiên tòa, bị hại xin vắng mặt và người làm chứng vắng mặt không lý do nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án nên căn cứ vào các Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ án, trước tòa bị cáo Lê Văn T1 khai nhận: Xuất phát từ việc muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà không cần bỏ công sức ra lao động nên vào khoảng 07 giờ ngày 27 tháng 4 năm 2024, tại ấp S, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An thì bị cáo Lê Văn T1 đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe môtô hiệu Honda, loại Cub 50, màu xanh, biển kiểm soát 62-926CD, số máy 9016688, số khung 9016641 trị giá 2.500.000đồng của bị hại Nguyễn Thị L thì bị bắt quả tang.
Lời khai nhận của bị cáo Lê Văn T1 trước Tòa phù hợp với với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 27 tháng 4 năm 2024, lời khai của bị hại, của người làm chứng, phù hợp với kết luận định giá tài sản ngày 03 tháng 5 năm 2024 và tang vật chứng thu giữ đã được thẩm tra, xác minh công khai tại phiên Tòa, phù hợp với nội dung Cáo trạng. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Lê Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[3] Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Lê Văn T1 với các tội danh và Điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản mà bị cáo Lê Văn T1 gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác - quyền này được pháp luật Hình sự bảo vệ nếu người nào cố tình xâm hại thì sẽ bị pháp luật trừng phạt. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm hại trực tiếp đến tài sản của bị hại L mà còn gây ảnh hưởng xấu đến
4
tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi trái pháp luật của bị cáo cần xử lý nghiêm theo pháp luật Hình sự, cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo với xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục - răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét về nhân thân: Bị cáo Lê Văn T1 có nhân thân xấu vì đã có 02 tiền án về tội “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội mới là tình tiết định khung theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử thì bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi áp dụng hình phạt. Xét theo lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Lê Văn T1 là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Lê Văn T1 không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị L sau khi nhận lại tài sản xong không yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
[6] Về tang vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Long An đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp xong nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn T1 phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lê Văn T1 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27 tháng 4 năm 2024.
Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Văn T1 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 26 tháng 7 năm 2024) để đảm bảo thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Văn T1 theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
5
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Lê Văn T1 chịu 200.000đồng án phí Hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Án này là sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng hị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bảo sao bản án hoặc ngày niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Văn Hiệp |
Bản án số 103/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 103/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trom
