|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 103/2024/HS-ST
Ngày: 26-4-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Thắng
Bà Nguyễn Phương Ly
Thư ký phiên toà: Bà Hứa Thu Hằng - Thư ký Toà án nhân dân thành
phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam
Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hải Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 91/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thị Huyền T, sinh ngày 15 tháng 9 năm 1998 tại: Tỉnh Thanh Hóa; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú: Thôn K, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn L, xã L, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Thổ; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C và bà Quách Thị B; có chồng Quách Văn K và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05-01-2024, chuyển tạm giam từ ngày 14-01-2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
Anh Lê Việt C1 (không triệu tập đến phiên tòa)
Anh Đỗ Tiến D (không triệu tập đến phiên tòa)
Anh Nguyễn Thanh Q (không triệu tập đến phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 05 phút ngày 05-01-2024, tổ công tác Công an thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực cổng vào thôn L, xã L, thành phố N, tỉnh Nam Định phát hiện thấy Lê Thị Huyền T đang ngồi sau xe máy biển kiểm soát 29Z1-5544 do anh Lê Việt C1 điều khiển có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra đã thu giữ được trong túi áo khoác bên trái Lê Thị Huyền T đang mặc 01 gói giấy màu trắng, bên trong có 01 túi nhỏ ni-long màu trắng, kích thước khoảng 2x2cm, chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. Lê Thị Huyền T khai là túi ma túy tổng hợp dạng “đá” tàng trữ để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng, mời người làm chứng và đưa Lê Thị Huyền T về trụ sở Công an thành phố N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định pháp luật.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã ra quyết định trưng cầu giám định vật chứng thu giữ của Lê Thị Huyền T. Tại Bản kết luận giám định số 254/KL-KTHS ngày 09-01-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng, trong 01 túi ni-long màu trắng, kích thước khoảng 2x2cm, được gói trong 01 gói giấy màu trắng thu giữ của Lê Thị Huyền T, được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine, khối lượng mẫu: 0,285 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Thị Huyền T khai nhận như sau: Khoảng 12 giờ ngày 04-01-2024, Lê Thị Huyền T đi một mình từ nhà trọ đến khu vực ngã tư đường G + T, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Đến nơi, Lê Thị Huyền T mua của một người phụ nữ (không rõ lai lịch, địa chỉ) 01 gói ma túy tổng hợp dạng “đá” với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Lê Thị Huyền T mang về nhà trọ, gói vào 01 mảnh giấy màu trắng rồi cất vào túi áo khoác bên trái đang mặc. Khoảng 13 giờ ngày 05-01-2024, anh Lê Việt C1 đi xe máy biển kiểm soát 29Z1-5544 đến phòng trọ của Lê Thị Huyền T chơi. Đến 17 giờ cùng ngày, Lê Thị Huyền T nhờ anh Lê Việt C1 chở đi mua đồ ăn. Khi đi Lê Thị Huyền T vẫn mặc chiếc áo khoác có cất ma túy nhưng không nói cho anh Lê Việt C1 biết. Khi anh Lê Việt C1 chở Lê Thị
Huyền T đi ra đến khu vực cổng vào thôn L, xã L, thành phố N, tỉnh Nam Định thì bị phát hiện, bắt giữ.
Bản cáo trạng số 96/CT-VKSND-TPNĐ ngày 04-4-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Lê Thị Huyền T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị Huyền T đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân như bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Lê Thị Huyền T tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Lê Thị Huyền T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Thị Huyền T từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ của bị cáo Lê Thị Huyền T.
- Buộc bị cáo Lê Thị Huyền T nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Lê Thị Huyền T nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên
tòa, bị cáo Lê Thị Huyền T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Thị Huyền T trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 05-01-2024; Biên bản thu giữ vật chứng ngày 05-01-2024; Bản kết luận giám định số 254/KL-KTHS ngày 09-01-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 17 giờ 05 phút ngày 05-01-2024, tại khu vực cổng vào thôn L, xã L, thành phố N, tỉnh Nam Định, bị cáo Lê Thị Huyền T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,285 gam Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Hành vi của bị cáo Lê Thị Huyền T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện; khối lượng Methamphetamine bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 0,285 gam. Vì vậy bị cáo Lê Thị Huyền T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì bị cáo Lê Thị Huyền T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, phải nuôi 02 con nhỏ nên bị cáo sẽ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Lê Thị Huyền T không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Thị Huyền T là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên do lượng
ma túy ít và bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử chỉ xử phạt bị cáo ở mức thấp của khung hình phạt bị truy tố.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo Lê Thị Huyền T không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, bị cáo còn phải nuôi 02 con nhỏ nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Số ma túy thu giữ của bị cáo Lê Thị Huyền T là vật cấm lưu hành nên sẽ tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí:
Bị cáo Lê Thị Huyền T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Thị Huyền T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thị Huyền T 01 năm 03 tháng tù (một năm ba tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày 05-01-2024.
2. Xử lý vật chứng:
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy gói ma túy đã thu giữ trong phong bì niêm phong số 254/KL-KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh N.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09-4-2024).
3. Án phí:
- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Lê Thị Huyền T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
Bị cáo Lê Thị Huyền T có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Lê Thị Huyền T có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Minh Tuấn |
6
Bản án số 103/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 103/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Huyền Trang - Tàng trữ trái phép chất ma túy
