Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 103/2024/DS-ST

Ngày: 26/4/2024

V/v tranh chấp hợp đồng

tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Tuấn; Ông Lý Khắc Chung.

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Châu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 106/2023/TLST-DS ngày 02 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 170/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 217/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần V (gọi tắt là V1). Địa chỉ trụ sở: số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
  2. Địa chỉ liên lạc: Tầng 02, số B T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

    Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng Thương mại cổ phần V: Ông Ngô Chí D, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng Quản trị – Là đại diện theo pháp luật.

    Người đại diện theo ủy quyền lại của ông Ngô Chí D: Ông Lê Thanh N, chức vụ: Cán bộ xử lý nợ-Ngân hàng Thương mại cổ phần V. Có đơn xin vắng mặt.

  3. Bị đơn:
    1. Ông Phạm Hùng K, sinh năm 1968. Địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Có đơn xin vắng mặt.
    2. Trần Thị N1, sinh năm 1961 (chết ngày 10/8/2023).
    3. Người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng bà Trần Thị N1, gồm:

      1. Phạm Hùng C, sinh năm 1992; Vắng mặt.
      2. Phạm Trúc M, sinh năm 1993; Vắng mặt.
      3. Phạm Văn N2, sinh năm 1998. Vắng mặt.
      4. Phạm Hùng K, sinh năm 1968. Có đơn xin vắng mặt.

      Cùng địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Phạm Hùng C, sinh năm 1992; Phạm Trúc M, sinh năm 1993 và Phạm Văn N2, sinh năm 1998. Cùng địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần V (gọi tắt là V1) do người đại diện theo ủy quyền trình bày:

V1 cho ông Phạm Hùng K và bà Trần Thị N1 vay theo các hợp đồng:

Hợp đồng vay thứ nhất: Hợp đồng vay số: LN2011062986751/CDC/HĐTD ngày 16/11/2020 có nội dung như sau: Số tiền vay: 150.000.000 đồng (một trăm, năm mươi triệu đồng); Mục đích vay: Tiêu dùng; Thời hạn vay: 120 tháng, kể từ ngày 19/11/2020 đến ngày trả nợ cuối cùng 19/11/2030; Lãi suất thỏa thuận: Thả nổi.

Hợp đồng vay thứ hai: Ngày 14/11/2018 ông Phạm Hùng K, bà Trần Thị N1 có nhu cầu sử dụng thẻ tín dụng nên đã ký Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở & sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ Ngân hàng điện tử số: CN/VN0010138/201811/237 với hạn mức thẻ tín dụng được cấp là 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng). Mục đích vay: Tiêu dùng; Thời hạn vay: 48 tháng, kể từ ngày 15/11/2018 đến ngày trả nợ cuối cùng 15/11/2022; Lãi suất: Thỏa thuận.

Để đảm bảo cho các khoản vay nêu trên ông Phạm Hùng K, bà Trần Thị N1 đã dùng tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 6700721/CDC/HĐTC ngày 23/3/2016, được chi nhánh Văn phòng Đ chi nhánh huyện C xác nhận thế chấp ngày 23/3/2016. Tài sản thế chấp là: Toàn bộ nhà và đất thửa số: 193; Tờ bản đồ số: 41; Diện tích 140,1 m²; Địa chỉ thửa đất: xã K, huyện C, tỉnh An Giang, cấp cho ông Phạm Hùng K, bà Trần Thị N1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 798980, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH07117 do UBND huyện C, Tỉnh An Giang cấp ngày 22/01/2016.

Quá trình sử dụng vốn vay ông Phạm Hùng K và bà Trần Thị N1 đã vi phạm hợp đồng, V1 đã nhiều lần đôn đốc tạo điều kiện trả nợ nhưng ông bà vẫn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. Do đó V1 đã chuyển nợ quá hạn theo quy định.

Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án thì bà Trần Thị N1 chết. Vì vậy V1 yêu cầu giải quyết những vấn đề sau:

  • Buộc ông Phạm Hùng K và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà Trần Thị N1 gồm: ông Phạm Hùng K (chồng), Phạm Hùng C (con) Phạm Trúc M (con) và Phạm Văn N2 (con) cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho V1 số tiền tính đến ngày 26/4/2024 là 213.896.511 đồng (hai trăm mười ba triệu, tám trăm chín mươi sáu nghìn, năm trăm mười một đồng), trong đó nợ gốc: 136.918.127 đồng (một trăm ba mươi sáu triệu, chín trăm mười tám nghìn, một trăm hai mươi bảy đồng) (gồm dư nợ gốc của Hợp đồng vay số: LN2011062986751/CDC/HĐTD ngày 16/11/2020 là: 121.250.000 đồng, nợ thẻ số CN/VN0010138/201811/237 là 15.668.127 đồng), tiền lãi: 76.978.384 đồng (bảy mươi sáu triệu, chín trăm bảy mươi tám nghìn, ba trăm tám mươi bốn đồng) (tiền lãi trong hạn: 51.318.923 đồng; lãi quá hạn: 25.659.461 đồng).

Kể từ ngày 27/4/2024, ông Phạm Hùng K và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà Trần Thị N1 gồm: ông Phạm Hùng K, Phạm Hùng C, Phạm Trúc MPhạm Văn N2 phải tiếp tục trả khoản tiền lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng vay số: LN2011062986751/CDC/HĐTD ngày 16/11/2020 và Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở & sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ Ngân hàng điện tử số: CN/VN0010138/201811/237 ngày 14/11/2018 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

Trường hợp ông Phạm Hùng K và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà Trần Thị N1 gồm: ông Phạm Hùng K, Phạm Hùng C, Phạm Trúc MPhạm Văn N2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì V1 được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ khoản nợ của ông Phạm Hùng K và bà Trần Thị N1. Tài sản thế chấp là: Toàn bộ nhà và đất thửa số: 193; Tờ bản đồ số: 41; Diện tích 140,1 m²; Địa chỉ thửa đất: xã K, huyện C, tỉnh An Giang, cấp cho ông Phạm Hùng K, bà Trần Thị N1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 798980, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH07117 do UBND huyện C, Tỉnh An Giang cấp ngày 22/01/2016.

Những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà Trần Thị N1 gồm: ông Phạm Hùng K, Phạm Hùng C, Phạm Trúc MPhạm Văn N2 chỉ phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ với V1 trong phạm vi di sản do bà Trần Thị N1 để lại.

* Bị đơn ông Phạm Hùng K trình bày: Thừa nhận có vay của Ngân hàng Thương mại cổ phần V theo các hợp đồng đã ký kết, số nợ vốn gốc 136.918.127 đồng (một trăm ba mươi sáu triệu, chín trăm mười tám nghìn, một trăm hai mươi bảy đồng). Hiện nay không có khả năng trả ngay một lần và xin giảm tiền lãi.

* Người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà Trần Thị N1 và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng họ không có văn bản trình bày ý kiến và không đến Tòa án làm việc theo yêu cầu triệu tập của Tòa án. Do vậy, Tòa án không ghi được ý kiến trình bày của họ.

* Tại phiên tòa,

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Có đơn xin xét xử vắng mặt

Bị đơn; Người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà Trần Thị N1 và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Phạm Hùng K có đơn xin vắng mặt; các đương sự còn lại vắng mặt.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án:

  • Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Tòa án xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thực hiện thủ tục cấp tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, thành phần tham gia xét xử...được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa các đương sự về hợp đồng tín dụng, bị đơn cư trú tại huyện C, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và Bị đơn ông Phạm Hùng K: Có đơn xin xét xử vắng mặt; các đương sự còn lại đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.

Về xác định đương sự trong vụ án: Năm 2018 và năm 2020 vợ chồng ông Phạm Hùng K và bà Trần Thị N1 ký hợp đồng tín dụng để vay tiền tại V1. Quá trình thực hiện hợp đồng, ngày 10/8/2023 bà N1 chết. Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà N1 được xác định gồm: ông Phạm Hùng K (chồng) và các con gồm: Phạm Hùng C, Phạm Trúc MPhạm Văn N2. Do vậy, xác định ông Phạm Hùng K, Phạm Hùng C, Phạm Trúc MPhạm Văn N2 là bị đơn trong vụ án đồng thời cũng là người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà Trần Thị N1 trong phạm vi tài sản thừa kế.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà Trần Thị N1 thanh toán toàn bộ khoản nợ:

[2.1] Đối với số tiền nợ gốc tính đến ngày 26/4/2024 là 136.918.127 đồng (một trăm ba mươi sáu triệu, chín trăm mười tám nghìn, một trăm hai mươi bảy đồng).

Ông Phạm Hùng K và bà Trần Thị N1 đã ký Hợp đồng vay số: LN2011062986751/CDC/HĐTD ngày 16/11/2020 vay số tiền: 121.250.000 đồng và nợ thẻ số CN/VN0010138/201811/237 là 15.668.127 đồng. Tính đến ngày 26/4/2024 ông K và bà N1 vẫn chưa trả cho V1. Ông K thừa nhận còn nợ số tiền vốn gốc 136.918.127 đồng. Do đó nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả toàn bộ số nợ gốc là có căn cứ nên được chấp nhận.

[2.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả khoản nợ lãi theo Hợp đồng đã ký kết giữa hai bên.

Tại Hợp đồng vay số: LN2011062986751/CDC/HĐTD ngày 16/11/2020 và Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở & sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ Ngân hàng điện tử số: CN/VN0010138/201811/237 ngày 14/11/2018 đã ký giữa các bên đều có thỏa thuận mức lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn, phạt chậm trả lãi và mức điều chỉnh lãi suất. Xét các mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận là phù hợp với lãi suất quy định của Ngân hàng N3 tại thời điểm ký hợp đồng, phù hợp với Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Do vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả các khoản tiền lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký là có căn cứ nên được chấp nhận.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do V1 xuất trình có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn tính đến ngày 26/4/2024 bị đơn còn phải trả các khoản tiền lãi: 76.978.384 đồng (bảy mươi sáu triệu, chín trăm bảy mươi tám nghìn, ba trăm tám mươi bốn đồng) (tiền lãi trong hạn: 51.318.923 đồng; lãi quá hạn: 25.659.461 đồng).

Căn cứ khoản 1 Điều 615 Bộ luật dân sự 2015 quy định về thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại như sau: “Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Bà N1 đã chết nên yêu cầu khởi kiện của V1 buộc ông K và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà N1 là: ông K, anh C, chị M và anh N2 cùng có nghĩa vụ liên đới trả nợ thay cho bà N1 trong phạm vi di sản do bà N1 để lại là phù hợp với quy định của pháp luật.

Kể từ ngày 27/4/2024, ông K và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà N1 còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh của số tiền còn phải thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng nêu trên.

[3] Xét yêu cầu về xử lý tài sản bảo đảm của nguyên đơn:

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 6700721/CDC/HĐTC ngày 23/3/2016, được chi nhánh Văn phòng Đ chi nhánh huyện C xác nhận thế chấp ngày 23/3/2016. Nội dung hợp đồng do các bên tự nguyện xác lập phù hợp với các quy định của pháp luật. Tại điều 2 của hợp đồng thế chấp trên đã xác định nghĩa vụ được bảo đảm là bên thế chấp đồng ý thế chấp tài sản nêu tại Điều 2 để đảm bảo cho toàn bộ nghĩa vụ trả nợ, chi phí phát sinh và các khoản phải trả khác của bên thế chấp. Theo điều 6 của Hợp đồng thế chấp trên có quy định các trường hợp bên vay và/hoặc bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì bên Ngân hàng có quyền áp dụng các biện pháp xử lý tài sản thế chấp theo đúng quy định của pháp luật để thu hồi nợ. Sự thỏa thuận của các bên trong Hợp đồng thế chấp là phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về việc bảo lãnh, phù hợp với Nghị định 163/2006/NĐ- CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm, Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Điều 167 Luật Đất đai năm 2013. Vì vậy, trường hợp bị đơn không trả được nợ thì tài sản thế chấp là: Toàn bộ nhà và đất thửa số: 193; Tờ bản đồ số: 41; Diện tích

140,1 m²; Địa chỉ thửa đất: xã K, huyện C, tỉnh An Giang, cấp cho ông Phạm Hùng K, bà Trần Thị N1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 798980, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH07117 do UBND huyện C, Tỉnh An Giang cấp ngày 22/01/2016 sẽ được kê biên, phát mãi để bảo đảm thi hành án là phù hợp với các điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 274, Điều 275, Điều 280, Điều 298, Điều 317 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4] Về chi phí tố tụng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 158 Bộ luật Tố tụng Dân sự, ông K và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà N1 phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 1.000.000 đồng (một triệu đồng). V1 đã nộp tạm ứng, do đó ông K và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà N1 có nghĩa vụ hoàn trả cho V1 chi phí này.

[5] Về án phí: Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông K và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 274, 275, 295, 299, 318, 319, 351, 357, 463, 466, 468, 615 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Các điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Điều 167 Luật Đất đai năm 2013.

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39; các điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần V.
  2. Buộc ông Phạm Hùng K và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà Trần Thị N1 gồm: ông Phạm Hùng K (chồng), Phạm Hùng C (con) Phạm Trúc M (con) và Phạm Văn N2 (con) cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V số tiền tính đến ngày 26/4/2024 là 213.896.511 đồng (hai trăm mười ba triệu, tám trăm chín mươi sáu nghìn, năm trăm mười một đồng), trong đó nợ gốc: 136.918.127 đồng (một trăm ba mươi sáu triệu, chín trăm mười tám nghìn, một trăm hai mươi bảy đồng) (gồm dư nợ gốc của Hợp đồng vay số:

LN2011062986751/CDC/HĐTD ngày 16/11/2020 là: 121.250.000 đồng, nợ thẻ số CN/VN0010138/201811/237 là 15.668.127 đồng), tiền lãi: 76.978.384 đồng (bảy mươi sáu triệu, chín trăm bảy mươi tám nghìn, ba trăm tám mươi bốn đồng) (tiền lãi trong hạn: 51.318.923 đồng; lãi quá hạn: 25.659.461 đồng).

  1. Kể từ ngày 27/4/2024, ông Phạm Hùng K và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà Trần Thị N1 gồm: ông Phạm Hùng K, Phạm Hùng C, Phạm Trúc MPhạm Văn N2 phải tiếp tục trả khoản tiền lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng vay số: LN2011062986751/CDC/HĐTD ngày 16/11/2020 và Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở & sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ Ngân hàng điện tử số: CN/VN0010138/201811/237 ngày 14/11/2018 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
  2. Trường hợp ông Phạm Hùng K và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà Trần Thị N1 gồm: ông Phạm Hùng K, Phạm Hùng C, Phạm Trúc MPhạm Văn N2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì V1 được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ khoản nợ của ông Phạm Hùng K và bà Trần Thị N1. Tài sản thế chấp là: Toàn bộ nhà và đất thửa số: 193; Tờ bản đồ số: 41; Diện tích 140,1 m²; Địa chỉ thửa đất: xã K, huyện C, tỉnh An Giang, cấp cho ông Phạm Hùng K, bà Trần Thị N1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 798980, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH07117 do UBND huyện C, Tỉnh An Giang cấp ngày 22/01/2016.
  3. Những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà Trần Thị N1 gồm: ông Phạm Hùng K, Phạm Hùng C, Phạm Trúc MPhạm Văn N2 chỉ phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ với V1 trong phạm vi di sản do bà Trần Thị N1 để lại.

  4. Về chi phí tố tụng: ông Phạm Hùng K và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà Trần Thị N1 gồm: ông Phạm Hùng K, Phạm Hùng C, Phạm Trúc MPhạm Văn N2 có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V chi phí tố tụng là 1.000.000 đồng (một triệu đồng).
  5. Án phí: ông Phạm Hùng K và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà Trần Thị N1 gồm: ông Phạm Hùng K, Phạm Hùng C, Phạm Trúc MPhạm Văn N2 phải chịu 10.695.000 đồng (mười triệu, sáu trăm chín mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả Ngân hàng Thương mại cổ phần V số tiền đã nộp tạm ứng án phí 4.445.000 đồng (bốn triệu, bốn trăm, bốn mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0005628 ngày 02/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Châu Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Phú;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Lưu VP; hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quốc Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2024/DS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 103/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hợp đồng tín dụng, thế chấp QSDĐ (NH VIB - Kiện, Nga)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger