Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 103/2024/DS-ST

Ngày 25-9-2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

và lối đi

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Chu Văn Hùng.

2. Ông Triệu Đức Tươi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Ngọc Ánh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hương Lý, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 45/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp quyền sử dụng đất và lối đi, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST-ST ngày 01 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Vũ Mạnh T; địa chỉ: A, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.

- Bị đơn:

+ Ông Hoa Dương L; địa chỉ: A, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.

Ông Hoa Minh H (tên gọi khác: Hoa Minh T1); địa chỉ: A, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Hồ Thị H1; địa chỉ: A, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.

+ Bà Nguyễn Thị Kim N; địa chỉ: A, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T; địa chỉ: Tổ dân phố A, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Quang H2, Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trịnh Văn T2, Phó Giám đốc phụ trách Văn phòng đăng ký đất đai.

- Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; địa chỉ: đường N, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn L1, Chủ tịch UBND thành phố T.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Quang N1, Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T.

- Ủy ban nhân dân phường C, thành phố T; địa chỉ: Tổ A, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn B, Chủ tịch UBND phường.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Văn L2, Phó Chủ tịch UBND phường.

- Bà Lê Thanh L3; địa chỉ: A, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 11/12/2023 và bản tự khai, biên bản ghi lời khai, nguyên đơn là ông Vũ Mạnh T trình bày:

Thửa đất số 192 tờ bản đồ số 14 tại tổ A, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; diện tích 2268m² (đất ở tại đô thị 600m2; đất trồng cây lâu năm 1668m²; thời hạn 2058); đã được UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ H00044/NTC ngày 24/3/2009 cho người sử dụng đất là ông Vũ Mạnh T. Nguồn gốc sử dụng đất là nhận quyền sử dụng đất do tặng cho quyền sử dụng đất từ bà Nguyễn Thị N2. Khi thực hiện việc tặng cho, do ông là người sinh ra và lớn liên ở đây, ông biết rõ các mốc giới giữa các thửa đất liền kề nên không tiến hành đo đạc lại, không chỉ mốc giới, không xác định lại ranh giới giữa các thửa giáp ranh. Quá trình sử dụng xảy ra tranh chấp với thửa đất số 198 của ông Hoa Minh H và thửa 728, 729 của ông Hoa Dương L, tranh chấp lối đi từ ngoài đường L vào các thửa đất. Ông đã đề nghị UBND phường C giải quyết, hòa giải và công ty Đ về đo vẽ, tuy nhiên các gia đình vẫn không đi đến thống nhất.

Ông khởi kiện yêu cầu ông Hoa Minh H trả lại ông phần đất tiếp giáp với thửa đất số 198 tờ bản đồ số 14, diện tích 77,5m²; yêu cầu ông Hoa Dương L trả lại ông phần diện tích đất tiếp giáp với thửa đất 728 tờ bản đồ số 14 diện tích 45,7m²; xác định một phần lối đi sát hàng rào găng có diện tích 65m² là diện tích đất thuộc thửa 192 tờ bản đồ số 14 của ông, yêu cầu hộ ông H, ông T1 trả lại. Buộc ông L, ông H và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tháo dỡ, di rời các tài sản trên đất. Xác định lối đi từ đường L vào thửa đất số 192 tờ bản đồ số 14 là lối đi riêng của gia đình ông.

Bị đơn là ông Hoa Minh H (tức Hoa Minh T1) trình bày: Ông và vợ là Hồ Thị H1 được bố mẹ ông là ông Hoa Minh T3 và bà Võ Thị E tặng cho 01 diện tích đất 1396m² tại thửa đất số 198 tờ bản đồ số 14 tại phường C, thành phố T; và đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/11/2021. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì vợ chồng ông xây nhà và ở trên đất đến nay.

Ông Hoa Minh T3 và bà Võ Thị E có 05 người con, 01 người đã chết, còn 04 người. Bố mẹ ông hiện vẫn còn sống cùng vợ chồng ông Hoa Dương L. Bố mẹ ông có 01 thưả đất là thửa số 198 tờ bản đồ số 14 gồm 1.728m², trong đó có 200m² đất thổ cư và 1.528m² đất vườn, địa chỉ đất tại phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; đã được UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W952996 ngày 20/01/2003. Đến năm 2006 bố mẹ ông tặng cho vợ chồng anh L 01 diện tích đất gồm 100m² đất thổ cư và 165m² đất vườn, trừ đi 67m² đất vườn làm đường đi chung; và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Diện tích đất này bố mẹ ông mua từ năm 1977 và gia đình ông sống ổn định đến nay. Phần còn lại đến năm 2021 bố mẹ ông tặng cho vợ chồng ông.

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông T, ông không nhất trì, vì ông xác định bố mẹ ông và vợ chồng ông sử dụng ổn định, có ranh giới cũ là hàng mít trồng khoảng gần 40 năm và hàng găng trồng từ thời bố ông T còn sống. Đất nhà ông trên cao, đất nhà ông T thấp hơn khoảng nửa mét. Gia đình ông không lấn chiếm đất nhà ông T, ông đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Bị đơn là ông Hoa Dương L trình bày: Ông và vợ là Nguyễn Thị Kim N được bố mẹ là ông Hoa Minh T3 và bà Võ Thị E tặng cho 01 diện tích đất gồm 100m² đất thổ cư và 165m² đất vườn, trừ đi 67m² đất vườn làm đường đi chung. Sau đó vợ chồng ông tách ra 02 diện tích đất, gồm 01 diện tích đất 163,5m² tại thửa đất số 729 tờ bản đồ số 14; 01 diện tích đất 101m² đất tại thửa số 728 tờ bản đồ số 14; địa chỉ các thửa đất trên đều tại phường C, thành phố T; đều đã được UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ486163; số vào sổ cấp giấy H0085/NCN ngày 26/4/2006; Sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì vợ chồng ông xây nhà và ở trên đất đến nay. Về nguồn gốc thửa đất, lý do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, ông thống nhất như ý kiến trình bày của ông H.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Bà Hồ Thị H1 trình bày: Về nguồn gốc thửa đất, lý do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, bà thống nhất như ý kiến trình bày của ông H.

- Bà Nguyễn Thị Kim N trình bày: Về nguồn gốc thửa đất, lý do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, bà thống nhất như ý kiến trình bày của ông L.

- Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh T trình bày: Hình thể, kích thước các thửa đất số 192, 198, 728, 729 tờ bản đồ số 14 được UBND phường C xác định tại hồ sơ cấp GCNQSD đất. Ngoài ra, bản đồ địa chính thể hiện hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm đo đạc. Hình thể, kích thước thửa đất được thể hiện trên bản đồ địa chính được đo đạc hiện trạng tại thời điểm đo đạc theo dẫn đạc của chủ sử dụng đất, do vậy, Sở T không có căn cứ để xác định lý do sự thay đổi về diện tích, hình thể, kích thước thửa đất qua các thời kỳ đo đạc bản đồ địa chính.

- UBND thành phố T trình bày: Về quan điểm đối với việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Vũ Mạnh T thực hiện theo đúng trình tự quy định. Đối với yêu cầu công nhận toàn bộ diện tích con đường đi từ đường L đến thửa đất số 192 tờ bả đồ số 14 của ông T, đề nghị Tòa án căn cứ các tài liệu, văn bản có liên quan giải quyết theo quy định của pháp luật.

- UBND phường C trình bày: Đoạn đường từ đường L vào thửa đất số 192 tờ bản đồ số 14 của ông Vũ Văn T4 tại Tổ A, phường C, thành phố T là đường giao thông đi vào các hộ gia đình ông Vũ Mạnh T, ông Hoa Dương L, bà Vũ Thị H3 và bà Vũ Thị E1, là đất công do UBND phường quản lý. Bản đồ 299 đo đạc năm 1986 đã thể hiện có con đường, bản đồ địa chính năm 1995, năm 2010 và bản đồ chỉnh lý năm 2016 đều thể hiện là con đường, do vậy không có đền bù, thu hồi gì liên quan đến đoạn đương giao thông này. Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc, đối chiếu với bản đồ địa chính 2010, một phần tường rào của UBND phường C nằm trên lối đi từ đường L vào thửa đất số 192 tờ bản đồ 14. Nguồn gốc đất trụ sở UBND phường C là đất nhận chuyển nhượng của Liên đoàn địa chất Đ1 từ năm 1993, đã có tường rào xây xung quanh cố định, sử dụng ổn định, không có tranh chấp, phần tường rào hiện nay xây lại trên phạm vi tường rào cũ. Tại kết quả bản vẽ hiện trạng đo đạc ngày 10/5/2024 thể hiện ranh giới đất của UBND phường và các thửa đất liên quan trùng khớp với bản đồ 2015 và có sự chênh lệch so với bản đồ 2010 là do có sự xô đều về bản đồ lưới, không có sự biến động trong quá trình sử dụng. Đất của UBND phường C đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BP284650 do UBND tỉnh T cấp năm 2013. UBND phường C xin vắng mặt tại các phiên họp và xét xử của Tòa án.

Do các đương sự không thống nhất được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử công khai.

Tại phiên tòa, ông T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp ranh giới giữa thửa đất số 192 và thửa đất số 198 (đã chỉnh lý thành thừa 198, 728, 729 và một phần làm đường đi) tại tờ bản đồ số 14 tại phường C, thành phố T. Buộc hộ ông L, ông H phải trả lại các diện tích lấn chiếm. Ông xin rút yêu cầu khởi kiện yêu cầu công nhận toàn bộ diện tích con đường đi từ đường L vào đến thửa đất 192 tờ bản đồ số 14 của Vũ Mạnh T tại tổ A, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên là của ông T.

Phần tranh luận: Ông T không có ý kiến tranh luận. Ông L, ông H, bà H3: xác định diện tích đất các hộ gia đình đều sử dụng từ những năm 1970, có ranh giới rõ ràng do gia đình ông T xác định là những cây lâu năm, không có việc lấn chiếm và xê dịch về mốc giới, do đó không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử: Căn cứ Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, 166, 217, 218, 227, 228, 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 12, 26, 166, 170 Luật Đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Mạnh T về việc yêu cầu ông Hoa Dương L, Hoa Minh H trả lại diện tích đất lấn chiếm. Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông T về việc công nhận toàn bộ diện tích con đường đi từ đường L vào thửa đất số 192 tờ bản đồ số 14 là lối đi riêng của gia đình ông, ông T có quyền khởi kiện lại khi có yêu cầu. Ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp quyền sử dụng đất tại tổ A, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

- Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, sau khi tiến hành thảo luận, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt những người tham gia tố tụng trên.

[2] Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

2.1. Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Vũ Mạnh T, Hoa Dương L, Hoa Minh H và lối đi là đường bê tông vào thửa đất số 198, 728, 729:

- Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ gia đình do Sở T cung cấp thể hiện:

Thửa đất số 192, tờ bản đồ số 14 phường C diện tích 2.268m², trong đó có 600m² đất ở tại đô thị và 1.668 m² đất trồng cây lâu năm được UBND thành phố T cấp GCNQSD cho ông Vũ Mạnh T ngày 24/3/2009. Thửa đất có nguồn gốc được nhận tặng cho từ bà Nguyễn Thị N2 (mẹ đẻ), bà N2 nhận thừa kế từ ông Vũ Văn V (chồng bà N2). Kích thước, hình thể thửa đất thửa đất số 192, tờ bản đồ số 14 phường C được UBND phường C xác nhận tại Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất tháng 02 năm 2009.

Thửa đất 198 tờ bản đồ số 14 có diện tích 1.728m² được UBND thành phố T cấp cho hộ ông Hoa Minh T3 ngày 20/01/2003. Tại bản tường trình nguồn gốc sử dụng đất ngày 27/7/2021, ông Hoa Minh T3 trình bày nguồn gốc khai phá từ năm 1970, cư trú ổn định không có tranh chấp, có xác nhận của tổ trưởng tổ D (nay là tổ A), phường C, có xác nhận của UBND phường C, có chữ ký của các hộ giáp ranh liền kề trong đó có ông Vũ Văn V là bố đẻ của ông Vũ Mạnh T. Tại đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất, địa chính phường C có bản vẽ thể hiện hình thể, diện tích, kích thước của thửa đất số 198 tờ bản đồ số 14 nói trên.

Đến năm 2006, ông Hoa Minh T3 đã chuyển cho ông Hoa Dương L và bà Nguyễn Thị Kim N 101,5m² đất (chỉnh lý thành thửa 728) và 163,5m² đất (chỉnh lý thành thửa 729); và trừ 67m² đất làm lối đi chung; Hộ ông Hoa Dương L và bà Nguyễn Thị Kim N được UBND thành phố T cấp GCNQSD đất số AÐ 486163, tại thửa đất số 728, tờ bản đồ số 14 phường C với diện tích 101,5m²; và GCNQSD đất số AÐ 486164 tại thửa đất đất số 729, tờ bản đồ số 14 phường C, diện tí ch 163,5m². Kích thước, hình thể thửa đất được thể hiện trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được UBND phường C xác nhận tháng 3 năm 2006.

Phần diện tích đất còn lại là 1.396m² tại thửa đất số 198, tờ bản đồ số 14, năm 2021 ông Hoa Minh T3 đã tặng cho toàn bộ con trai là ông Hoa Minh H (tức Hoa Minh T1) và bà Hồ Thị H1; ông H, bà H1 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp GCNQSD đất số DÐ 706320 ngày 05/11/2021; kích thước hình thể thửa đất được xác định dựa trên bản đồ đo vẽ năm 1995 và hồ sơ đất đai năm 2006 được UBND phường C xác nhận.

- Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 10/5/2024 và kết quả đo vẽ thể hiện:

Ranh giới giữa thửa đất 192 và 198 tờ bản đồ số 14: Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có tổng chiều dài là 41,28m; Theo hiện trạng có tổng chiều dài là 39,62m. Phần diện tích đất tranh chấp là 77,9m². Trên ranh giới theo hiện trạng có các cây mít các bên xác định trồng từ trước năm 1982, ngoài ra không còn tài sản gì khác.

Ranh giới giữa thửa đất 192 và 728 tờ bản đồ số 14: Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xác định bởi các điểm 60, 6, 61, 5, 62 có kích thước 60-6 là 6,17m; 61-6 là 5,34m; 5-62 là 9,00m; 61-5 là 1,00; 5-65 là 9,00m; có tổng chiều dài là 30,51m. Theo hiện trạng được xác định bởi các điểm 6, 5, 4, 3, 62; Phần diện tích đất tranh chấp được giới hạn bởi các điểm từ 6,61,5,6 có diện tích 2,1m² và các điểm 3,4,5,62,3 có diện tích 19,0m². Ranh giới theo hiện trạng là bức tường gạch xây dài 16,33m xây năm 2006, đầu bức tường là cây dâu da do nhà ông T trồng năm 1980.

Thửa đất số 192 của ông Vũ Văn T4 không giáp thửa đất số 729 của ông Hoa Dương L.

Ranh giới giữa thửa đất 192 và đường bê tông giáp thửa 729 vào thửa 198: Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có chiều dài là 7,96m. Theo hiện trạng có chiều dài là 10,06m; phần diện tích đất tranh chấp được giới hạn bởi các điểm từ 6,7,8,9,41,59,60,6 có diện tích 45,7m². Ranh giới theo hiện trạng là bức tường gạch xây dài 10,06m, do gia đình ông L xây năm 2006; trên phần diện tích đất tranh chấp có đổ bê tông, ngoài ra không có tài sản gì khác.

Ranh giới giữa thửa đất 192 giáp đường bê tông vào thửa 728, 729 và 198 tờ bản đồ số 14 theo bản đồ có chiều dài 19,87m. Theo hiện trạng đo vẽ có chiều dài 21,26m; ranh giới theo hiện trạng là hàng rào găng trồng từ đầu những năm 1980; 01 cây mít trồng năm 1966; 01 cây sấu, 01 cây nhãn; 01 cây dâu da xoan trồng năm 1980; các cây trên đều do bố ông T4 là ông V trồng; 01 tường đất dài khoảng 30m, trong đó có đoạn 15m cao hơn 02m.

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các đương sự đều thừa nhận, ranh giới theo hiện trạng giữa các hộ gia đình tồn tại trên 40 năm và hiện vẫn còn tồn tại các tài sản như các cây sấu, cây nhãn, cây mít, cây dâu da, hàng rào găng, bờ đất các tài sản trên do bố ông T4 là ông V trồng và hiện nay vẫn nằm trên phần diện tích đất của ông T4. Phần diện tích gia đình ông L, ông H sử dụng ở cao hơn so với phần diện tích ông T4 sử dụng; thực địa giữa các thửa đất vẫn hình thành bờ thấp, bờ cao. Khi lập hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T4, ông L, ông H, ông T4 xác định không có việc đo đạc, xác định lại ranh giới thực tế; chỉ căn cứ đơn kê khai, hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, trích lục bản đồ thửa đất mà không thẩm tra, xem xét thực địa. Sau khi lồng ghép bản đồ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất, nhận thấy toàn bộ ranh giới của các diện tích đất bị xô đều về phía nam của bản vẽ theo tỷ lệ nhất định. Phần chồng đè giữa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hiện trạng sử dụng là do sai số khi đo vẽ, nên việc xác định có lấn chiếm hay không phải xem xét trên cơ sở thực tế ranh giới sử dụng đất ổn định. Ranh giới theo hiện trạng của các thửa đất gần như trùng khít với ranh giới theo bản đồ năm 2015. Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Mạnh T.

Căn cứ Điều 175 của Bộ luật dân sự năm 2015, xác định ranh giới giữa các thửa đất trên “theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp”. Cụ thể như sau:

Xác định ranh giới diện tích thửa 192 ông Vũ Mạnh T đang sử dụng giáp thửa số 198 của hộ ông Hoa Minh H đang sử dụng có vị trí, mốc giới theo trích đo hiện trạng sử dụng đất kèm biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 10/5/2024, là đoạn thẳng nối các điểm 32, 15, 14, 13, 12, 11, 10, 9; có tổng chiều dài là 39,62m; trong đó chiều dài các đoạn cụ thể là: 32-15 là 1,13; 15-14 là 8,47m; 14-13 là 1,78m; 13-12 là 11,45m; 12-11 là 10,73m; 11-10 là 3,39m; 10-9 là 2,67m;

Xác định ranh giới diện tích thửa 192 ông Vũ Mạnh T đang sử dụng giáp thửa số 728 của hộ ông Hoa Minh T1 (H) đang sử dụng có vị trí, mốc giới theo trích đo hiện trạng sử dụng đất kèm biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 10/5/2024, là đoạn thẳng nối các điểm 3, 4, 5, 6 có tổng chiều dài là 16,33m; trong đó chiều dài các đoạn cụ thể là: 3-4 là 5,78m; 4-5 là 4,53m; 5-6 là 6,02m;

Xác định ranh giới diện tích thửa 192 ông Vũ Mạnh T đang sử dụng giáp đường bê tông lối đi vào thửa 728, 729, 198 gồm có vị trí, mốc giới theo trích đo hiện trạng sử dụng đất kèm biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 10/5/2024, gồm 02 đoạn: Đoạn 1 là đoạn thẳng nối các điểm 6, 7, 8, 9, có tổng chiều dài là 10,06m; trong đó chiều dài các đoạn cụ thể là: 6-7 là 0,84m; 7-8 là 0,70m; 8-9 là 8,52m; Đoạn 2 là đoạn thẳng nối các điểm 2, 3, có chiều dài là 21,26m.

Hộ ông Hoa Dương L và bà Nguyễn Thị Kim N, hộ ông Hoa Minh H (tức Hoa Minh T1), ông Vũ Mạnh T có quyền yêu cầu UBND thành phố T có trách nhiệm xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo ranh giới, mốc giới, thực tế hiện tại đang sử dụng và có trách nhiệm trình các cấp có thẩm quyền hiệu chỉnh lại bản đồ, xác định theo đúng hiện trạng sử dụng theo quy định về pháp luật đất đai.

2.2. Tranh chấp lối đi từ đường L vào các thửa đất số 192, 198, 728 và 729:

Tại phiên hòa giải ngày 18/7/2024 và tại phiên tòa, ông T rút yêu cầu đối với nội dung này; căn cứ Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu này.

[3] Chi phí tố tụng:

3.1. Án phí: Áp dụng Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 12, Điều 14; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Do yêu cầu của ông Vũ Mạnh T không được chấp nhận nên ông Vũ Mạnh T phải chịu toàn bộ án phí dân sự theo quy định.

3.2. Chi phí tố tụng khác: Căn cứ điều 157, 158, 165 và Điều 166 của Bộ luật tố tụng dân sự: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn đồng); chi phí đo đạc là 23.200.000đ; chi phí định giá tài sản là 3.200.000đ (ba triệu hai trăm nghìn đồng). Tổng cộng: 28.200.000đ (hai mươi tám triệu hai trăm nghìn đồng). Do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng trên (ông T đã nộp đủ).

[4] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[5] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 264 Bộ luật tố tụng dân sự.

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Mạnh T.

Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, 147, 157, 158, 165, 166, 227, 228, 244, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự

Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Mạnh T yêu cầu ông hộ Hoa Minh H trả 77,9m² đất phần tiếp giáp giữa thửa 192 và thửa 198 tờ bản đồ số 14 tại phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

Xác định ranh giới diện tích thửa 192 ông Vũ Mạnh T đang sử dụng giáp thửa số 198 của hộ ông Hoa Minh H đang sử dụng có vị trí, mốc giới là đoạn thẳng nối các điểm 32, 15, 14, 13, 12, 11, 10, 9; có tổng chiều dài là 39,62m; trong đó chiều dài các đoạn cụ thể là: 32-15 là 1,13; 15-14 là 8,47m; 14-13 là 1,78m; 13-12 là 11,45m; 12-11 là 10,73m; 11-10 là 3,39m; 10-9 là 2,67m;

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Mạnh T yêu cầu ông hộ Hoa Dương L trả 19,0m² đất phần tiếp giáp giữa thửa 192 và thửa 728 tờ bản đồ số 14 tại phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

Xác định ranh giới diện tích thửa 192 ông Vũ Mạnh T đang sử dụng giáp thửa số 728 của hộ ông Hoa Minh T1 (H) đang sử dụng có vị trí, mốc giới, là đoạn thẳng nối các điểm 3, 4, 5, 6 có tổng chiều dài là 16,33m; trong đó chiều dài các đoạn cụ thể là: 3-4 là 5,78m; 4-5 là 4,53m; 5-6 là 6,02m;

3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Mạnh T yêu cầu hộ ông L, ông H trả phần diện tích 45,7m² và phần diện tích 45m² phần lối đi vào thửa số 728, 729, 198.

Xác định ranh giới diện tích thửa 192 ông Vũ Mạnh T đang sử dụng giáp đường bê tông lối đi vào thửa 728, 729, 198 gồm có vị trí, mốc giới theo trích đo hiện trạng sử dụng đất kèm biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 10/5/2024, gồm 02 đoạn: Đoạn 1 là đoạn thẳng nối các điểm 6, 7, 8, 9, có tổng chiều dài là 10,06m; trong đó chiều dài các đoạn cụ thể là: 6-7 là 0,84m; 7-8 là 0,70m; 8-9 là 8,52m; Đoạn 2 là đoạn thẳng nối từ điểm số 2 đến điểm số 3, có chiều dài là 21,26m.

(Theo trích đo hiện trạng sử dụng đất kèm biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 10/5/2024)

Hộ ông Hoa Dương L và bà Nguyễn Thị Kim N, hộ ông Hoa Minh H (tức Hoa Minh T1), ông Vũ Mạnh T có quyền yêu cầu UBND thành phố T có trách nhiệm xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo ranh giới, mốc giới, thực tế hiện tại đang sử dụng và có trách nhiệm trình các cấp có thẩm quyền hiệu chỉnh lại bản đồ theo đúng hiện trạng sử dụng theo quy định về pháp luật đất đai.

4. Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu giải quyết về tranh chấp lối đi từ đường L vào các thửa đất số 192, 198, 728 và 729 tờ bản đồ số 14 của ông Vũ Mạnh T do ông T rút yêu cầu khởi kiện. Ông T có quyền khởi kiện lại nội dung này theo quy định khi có yêu cầu.

5. Chi phí tố tụng:

5.1. Án phí: Ông T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm xung ngân sách nhà nước, được trừ từ số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0002613 ngày 11/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

5.2. Chi phí tố tụng khác: Ông T phải nộp toàn bộ chi phí tố tụng khác là 28.200.000đ (hai mươi tám triệu hai trăm nghìn đồng), trong đó: chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn đồng); chi phí đo đạc là 23.200.000đ; chi phí định giá tài sản là 3.200.000đ (ba triệu hai trăm nghìn đồng).

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

7. Quyền kháng cáo: Thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với đương sự có mặt; kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với các đương sự vắng mặt.

Bản đo vẽ của Công ty Cổ phần Đ2 thực hiện ngày 22/3/2024 là một phần không tách rời của bản án này./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Chi cục THA TPTN;
  • - VKSND TPTN;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ; Dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Linh

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Ngọc Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất và lối đi

  • Số bản án: 103/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất và lối đi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger