|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 103/2024/DS-ST
Ngày: 25/7/2024
Về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lâm Minh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Triệu Láth
Ông Sơn Khem
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệp - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 407/2023/TLST-DS, ngày 08 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N;
Địa chỉ trụ sở chính: Số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp: Bà Huỳnh Ngọc T là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền số 318/GUQ-NHNo-VC ngày 25/7/2024) (bà T có mặt).
Địa chỉ: Số D đường N, khóm A, phường A, thị xã V tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Ông Trần Hoài P; sinh năm: 1968 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp N, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Ánh P1; sinh năm: 1971 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp N, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 10/6/2023 của nguyên đơn Ngân hàng N cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – bà Huỳnh Ngọc T trình bày:
Ngày 30 tháng 12 năm 2019, Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V và ông Trần Hoài P ký kết hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-201901671. Theo Hợp đồng, Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V đã cho ông Trần Hoài P vay số tiền 150.000.000 đồng; mục đích vay: nuôi tôm; lãi suất 12%/năm; thanh toán trả lãi theo quý, trả nợ gốc theo phân kỳ vào ngày 25/12/2020; 25/12/2021; 25/12/2022; 25/12/2023; 25/12/2024, thời hạn vay là 60 tháng.
Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay ông Trần Hoài P đã tự nguyện giao cho Ngân hàng giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 514126 (Không ký kết hợp đồng thế chấp tài sản), có diện tích 6.627m2 thuộc thửa đất số 1190; 1227; tờ bản đồ số 11, tọa lạc ấp N, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, do Ủy ban nhân dân huyện V (nay là Ủy ban nhân dân thị xã V), tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ ông Trần Hoài P, ngày 29/08/2000.
Tính đến hết ngày 10/06/2023, tổng nợ của ông Trần Hoài P tạm tính (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) tại Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V là: 204.512.056 đồng, trong đó: Nợ gốc: 150.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 53.063.014 đồng, nợ lãi quá hạn: 1.449.043 đồng.
Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V đã nhiều lần yêu cầu ông Trần Hoài P thực hiện nghĩa vụ trả nợ nêu trên theo Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-201901671 ngày 30/12/2019, Tuy nhiên, ông Trần Hoài P không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi cho Ngân hàng N nên ngân hàng yêu cầu:
Buộc bà ông Trần Hoài P và bà Trần Thị Ánh P1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-201901671 ngày 30/12/2019 cho đến ngày thực tế ông Trần Hoài P và bà Trần Thị Thị Ánh P1 trả hết nợ gốc cho Ngân hàng N.
Trong trường hợp bà ông Trần Hoài P và bà Trần Thị Ánh P1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản là quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 514126 có diện tích 6.627m² thuộc thửa đất số 1190; 1227; tờ bản đồ số 11, tọa lạc ấp N, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, do Ủy ban nhân dân huyện V (nay là Ủy ban nhân dân thị xã V), tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ ông Trần Hoài P, ngày 29/08/2000.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Ngân hàng N rút một phần yêu cầu khởi kiện, phía ngân hàng không yêu cầu xử lý tài sản là quyền sử dụng đất có diện tích 6.627m² thuộc thửa đất số 1190; 1227, tờ bản đồ số 11 tọa lạc ấp N, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng do Ủy ban nhân dân huyện V (nay là Ủy ban nhân dân thị xã V), tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ ông Trần Hoài P ngày 29/08/2000 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 514126 và yêu cầu cụ thể như sau:
Buộc ông Trần Hoài P và bà Trần Thị Ánh P1, thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N toàn bộ số tiền tính đến ngày 25/7/2024 là 238.175.346 đồng (trong đó: Nợ gốc là 150.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 66.723.288 đồng, lãi quá hạn là 21.452.058 đồng) và lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-201901671 ngày 30/12/2019, kể từ ngày 26/7/2024 cho đến khi ông Trần Hoài P và bà Trần Thị Ánh P1 trả hết nợ gốc cho Ngân hàng N.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Hoài P trình bày: Ông thừa nhận có vay Ngân hàng N – Chi nhánh thị xã V số tiền nợ gốc 150.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-201901671 ngày 30/12/2019 và thống nhất thanh toán số tiền nợ gốc và lãi suất phát sinh theo hợp đồng. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế khó khăn nên yêu cầu được trả dần số tiền nêu trên. Đồng thời, ông với bà Trần Thị Ánh P1 là vợ chồng và việc ông vay tiền ngân hàng là để phục vụ nuôi tôm cũng như phục vụ sinh hoạt và nhu cầu thiết yếu trong gia đình.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Ánh P1: Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của ông Ngân hàng N nhưng bà P1 không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến. Tòa án đã thông báo toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho bà P1 và đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định pháp luật. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Trần Hoài P và bà Trần Thị Ánh P1 phải trả nguyên đơn Ngân hàng N số tiền 238.175.346 đồng (trong đó: Nợ gốc là 150.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 66.723.288 đồng, lãi quá hạn là 21.452.058 đồng). Ông Trần Hoài P và bà Trần Thị Ánh P1 phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 26/7/2024 theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết cho đến khi ông Trần Hoài P và bà Trần Thị Ánh P1 thanh toán hết nợ. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng N về việc yêu cầu xử lý tài sản là quyền sử dụng đất có diện tích 6.627m² thuộc thửa đất số 1190; 1227, tờ bản đồ số 11 tọa lạc ấp N, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng do Ủy ban nhân dân huyện V (nay là Ủy ban nhân dân thị xã V), tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ ông Trần Hoài P ngày 29/08/2000 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 514126. Đồng thời quyết định về nghĩa vụ chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ngân hàng N khởi kiện tranh chấp về hợp đồng tín dụng với bị đơn là ông Trần Hoài P có địa chỉ tại ấp N, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
[2] Bị đơn Trần Hoài P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Ánh P1 đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[3] Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu xử lý tài sản là quyền sử dụng đất có diện tích 6.627m² thuộc thửa đất số 1190; 1227, tờ bản đồ số 11 tọa lạc ấp N, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng do Ủy ban nhân dân huyện V (nay là Ủy ban nhân dân thị xã V), tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ ông Trần Hoài P ngày 29/08/2000 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 51412. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu này của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ngân hàng N về việc yêu cầu xử lý tài sản là quyền sử dụng đất có diện tích 6.627m² thuộc thửa đất số 1190; 1227, tờ bản đồ số 11 tọa lạc ấp N, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng do Ủy ban nhân dân huyện V (nay là Ủy ban nhân dân thị xã V), tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ ông Trần Hoài P ngày 29/08/2000 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 51412.
[4] Về nội dung: Việc thỏa thuận vay tiền của bị đơn ông Trần Hoài P tại Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-201901671 ngày 30/12/2019 là tự nguyện, bình đẳng nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch dân sự, phù hợp với quy định tại các Điều 116, 117 của Bộ luật dân sự năm 2015, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại các Điều 119, 398, 463 của Bộ luật dân sự năm 2015. Đồng thời, các bên thỏa thuận lãi suất trong hạn 12%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn là phù hợp với quy định tại Điều 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng. Sau khi các bên ký kết hợp đồng, ông P còn nợ lại tiền nợ gốc là 150.000.000 đồng và tiền lãi chưa thanh toán kể từ ngày 11/11/2020 cho đến nay nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ mà hai bên đã ký kết. Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bị đơn ông P thanh toán nợ nhưng ông P không thanh toán theo hợp đồng mà hai bên thỏa thuận. Do vậy, bị đơn ông Trần Hoài P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, là bên có lỗi trong việc thực hiện các thỏa thuận đã ký kết nên ngân hàng N yêu cầu bị đơn ông P phải trả số tiền nợ gốc và nợ lãi tính kể từ ngày ông P vi phạm nghĩa vụ trả nợ ngày đến ngày xét xử 25/7/2024 số tiền là 238.175.346 đồng (trong đó: Nợ gốc là 150.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 66.723.288 đồng, lãi quá hạn là 21.452.058 đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 26/7/2024 theo lãi suất trong hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-201901671 ngày 30/12/2019 mà hai bên đã ký kết là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Xét về trách nhiệm liên đới: Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Hoài P trình bày, ông với bà Trần Thị Ánh P1 là vợ chồng và việc ông vay tiền ngân hàng là để phục vụ nuôi tôm cũng như phục vụ sinh hoạt và nhu cầu thiết yếu trong gia đình. Đối với bà Trần Thị Ánh P1, trong quá trình giải quyết vụ án đã được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và thông báo toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhưng bà P1 không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến. Do đó, việc ông Trần Hoài P trình bày là có căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào khoản 1 Điều 27 và khoản 1 Điều 30 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về trách nhiệm liên đới của vợ chồng khi một bên vợ hoặc chồng thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình nên việc Ngân hàng N yêu cầu bà Trần Thị Ánh P1 liên đới cùng ông Trần Hoài P trả tiền nợ vay ngân hàng là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị đơn ông Trần Hoài P giao cho Ngân hàng giữ làm tin nhưng bị đơn cũng không có yêu cầu gì đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Ngân hàng đang giữ nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[7] Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Hoài P và bà Trần Thị Ánh p phải chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 244; Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào các Điều 116, 117, 119, 317, 318, 398, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự.
Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ngân hàng N về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Trần Hoài P.
Buộc ông Trần Hoài P và bà Trần Thị Ánh P1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng N số tiền là 238.175.346 đồng (trong đó: Nợ gốc là 150.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 66.723.288 đồng, lãi quá hạn là 21.452.058 đồng). Ông Trần Hoài P và bà Trần Thị Ánh P1 liên đới trả lãi phát sinh kể từ ngày 26/7/2024 theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-201901671 ngày 30/12/2019 mà hai bên đã ký kết cho đến khi ông Trần Hoài P và bà Trần Thị Ánh P1 thanh toán hết nợ.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ngân hàng N về việc yêu cầu xử lý tài sản là quyền sử dụng đất có diện tích 6.627m² thuộc thửa đất số 1190; 1227, tờ bản đồ số 11 tọa lạc ấp N, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng do Ủy ban nhân dân huyện V (nay là Ủy ban nhân dân thị xã V), tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ ông Trần Hoài P ngày 29/08/2000 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 51412
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông Trần Hoài P và bà Trần Thị Ánh P1 phải chịu 11.908.767 đồng.
- - Nguyên đơn ngân hàng N và P2 triên Nông thôn Việt Nam không phải chịu án phí, hoàn trả cho ngân hàng N và P2 triên Nông thôn Việt Nam số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.112.801 đồng theo biên lai thu số 0000326 ngày 24 tháng 11 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Minh Tuấn |
7
Bản án số 103/2024/DS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 103/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
