Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2024/HS-ST

Ngày: 25 – 7 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hường

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Mỹ Hường – Bà Nguyễn Thị Hân

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 102/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Lâm Hoàng L, sinh ngày 04 tháng 5 năm 2004, tại huyện T, tỉnh An Giang. Nơi thường trú: Tổ 8, khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang. Nơi ở hiện tại: Tổ 02, ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang. Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lâm Sơn V và bà Nguyễn Thị M. Tiền án: Ngày 07 tháng 3 năm 2023, bị Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 21 tháng 8 năm 2023 chấp hành xong hình phạt tù. Tiền sự: Không. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 09 tháng 4 năm 2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L.

- Bị hại: Nguyễn Thanh T, sinh năm 1964, Nơi cư trú: Tổ 8, khóm B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang. Vắng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Phạm Thanh T1, sinh ngày 26/02/2009. Nơi cư trú: Phòng 4, khu dân cư S, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang. Vắng mặt

Người đại diện theo pháp luật của Phạm Thanh T1: bà Phạm Thị Ngọc N – mẹ ruột. Nơi cư trú: Phòng 4, khu dân cư S, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.Vắng mặt

  1. Nguyễn Văn L1, sinh ngày 03/5/2009. Nơi cư trú: Phòng 18, khu dân cư S, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang. Vắng mặt

Người đại diện theo pháp luật của Nguyễn Văn L1: Ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị L2 – cha mẹ ruột. Nơi cư trú: Phòng 18, khu dân cư S, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang. Vắng mặt

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Phạm Thanh T1, Nguyễn Văn L1: Ông Hà Quang V1, là Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Aang; địa chỉ: số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Có mặt

  1. Huỳnh Thị Tuyết N1, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Số I, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ ngày 08 tháng 4 năm 2024, Nguyễn Văn L1, sinh ngày 03 tháng 5 năm 2009 rủ Lâm Hoàng L đi tìm tài sản để lấy trộm bán lấy tiền tiêu xài thì L đồng ý. Thực hiện ý định, L và L1 đi bộ đến khu vực cầu C thuộc ấp B, xã M, thành phố L thì phát hiện xe mô tô tô nhãn hiệu Dona, màu nâu, biển số 60F3-6010 của anh Nguyễn Thành T2 dựng trước cửa nhà, trên xe có để 02 máy sủi Oxy, nhãn hiệu Resun MPQ-904, nên L1 rủ L lấy trộm thì L đồng ý và L đi bộ vào chợ C chờ L1 lấy trộm xe mô tô 60F3-6101 dẫn lại chỗ L. L1 kêu L khởi động xe điều khiển chở L1 đến nhà Phạm Thanh T1, sinh ngày 26 tháng 02 năm 2009 thuộc khu dân cư S, xã M, thành phố L. Tại đây, L1 kêu T1 đi cùng L1 mang xe đi bán, còn L vào nhà L1 đợi. Sau đó quay về nhưng chưa bán xe được do không biết chỗ bán, nên L1 kêu L mang xe đi bán thì L chở T1 đến điểm thu mua phế liệu Đức Nhung, số I khóm B, phường B, thành phố L bán xe mô tô biển số 60F3-6010 cho Huỳnh Thị Tuyết N1 với giá 600.000 đồng. Xong, L đưa cho T1 100.000 đồng, trả nợ cho H1 200.000 đồng, mua ma tuý sử dụng 200.000 đồng, còn lại L và L1 tiêu xài.

Kết luận giám định số 42/KL-HĐĐGTS ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L, kết luận:

  • 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Dona, loại xe số, kiểu dáng xe Dream, màu sơn nâu, số máy: 150FM-00250074, số khung: L06Y-0803474, dung tích xi lanh 97cm3, biển số 67F3 - 6101, đã qua sử dụng, trị giá 3.100.000 đồng;
  • 02 máy sủi Oxy, nhãn hiệu Resun MPQ-904, điện áp 12V, công suất 60W, đã qua sử dụng (chưa thu hồi), trị giá 720.000 đồng.

Tổng tài sản của vụ án có giá trị là 3.820.000 đồng.

Kết luận giám định số 706/KL-KTHS ngày 02 tháng 6 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh A: Xe mô tô biển số 60F3-6101 gửi giám định có số khung, số máy bị tẩy xoá.

Nguyễn Thanh T trình bày phù hợp nội dung vụ án, xin nhận lại xe, không yêu cầu bồi thường thiệt hại và không xử lý hình sự đối với L. Nguyễn Văn L1, Phạm Thanh T1, Lý Công H2, Huỳnh Thị Tuyết N1 trình bày phù hợp nội dung vụ án. Quá trình điều tra, bị cáo Lâm Hoàng L khai nhận hành vi phạm tội phù hợp nội dung vụ án đã nêu.

Tại bản Cáo trạng số 111/CT-VKSLX-HS ngày 02/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố bị cáo Lâm Hoàng L về “Tội trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa hôm nay:

Bị cáo Lâm Hoàng L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và thừa nhận hành vi phạm tội của mình, xin giảm nhẹ hình phạt.

Trợ giúp viên Hà Quang V1: thống nhất với nội dung cáo trạng, ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa. Người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định pháp luật. Ông không có ý kiến gì đối với nội dung vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên thực hiện quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015: xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung. Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: tịch thu tiêu hủy 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Dona, biển số 67F3 – 6101.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về Quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong giai đoạn điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định pháp luật.

[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Đối với bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, những người này đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và lời khai của những người này phù hợp với lời khai nhận của bị cáo trong giai đoạn điều tra, nên việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về trách nhiệm hình sự:

[2.1] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo Lâm Hoàng L thừa nhận ngày 08 tháng 4 năm 2024, bị cáo cùng Nguyễn Văn L1, sinh ngày 03 tháng 5 năm 2009, lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Dona, biển số 60F3-6101 trị giá 3.100.000 đồng và 02 máy sủi Oxy trị giá 720.000 đồng của anh Nguyễn Thanh T, với tổng trị giá tài sản 3.820.000 đồng.

[2.2] Xét thấy, lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát, phù hợp với lời khai của bị hại, người người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác tại hồ sơ vụ án. Như vậy, căn cứ vào các chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Hành vi trên đây của bị cáo Lâm Hoàng L đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, có khung hình phạt từ 06 tháng cho đến 03 năm tù.

[3] Xét về nhân thân, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thì nhận thấy:

[3.1] Bị cáo L là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, gây hoang mang dư luận. Bị cáo đã từng bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” đáng lẽ sau khi chấp hành xong hình phạt tù bị cáo phải ăn năn hối cải, tìm công việc chân chính, chăm lo lao động nuôi sống bản thân, gia đình và sống có ích cho xã hội. Nhưng vì động cơ vụ lợi, ham chơi, lười lao động muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động vất vả, bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội, cho thấy bị cáo có thái độ xem thường pháp luật. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần có hình phạt nghiêm khắc, phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo và thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát là cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

[3.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/8/2023, chưa được xóa án tích lại tội phạm do lỗi cố ý, thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

[3.3] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng:Theo kết luận giám định số 706/KL-KTHS, xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Dona biển số 67F3 – 6101 có số khung, số máy bị tẩy xóa do đó không được phép lưu hành. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tịch thu tiêu hủy 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Dona, loại xe số, kiểu dáng xe Dream, màu sơn nâu, số máy: 150FM-00250074, số khung: L06Y-0803474, dung tích xi lanh 97cm3, biển số 67F3 – 6101.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu bồi thường thiệt hại do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về các vấn đề khác: Nguyễn Văn L1, sinh ngày 03 tháng 5 năm 2009 và Phạm Thanh T1, sinh ngày 26 tháng 02 năm 2009, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về hành vi “Trộm cắp tài sản”, “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không truy cứu trách nhiệm hình sự và chuyển hồ sơ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ. Lâm Hoàng L, Lý Công H2 có hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam để điều tra, xử lý theo quy định pháp luật. Huỳnh Thị Tuyết N1 khi mua xe mô tô biển số 60F3-6101, không biết tài sản do phạm tội mà có, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.

[7] Về án phí: Bị cáo L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lâm Hoàng L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Lâm Hoàng L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày 09/4/2024.

2. Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tịch thu tiêu hủy 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Dona, loại xe số, kiểu dáng xe Dream, màu sơn nâu, số máy: 150FM-00250074, số khung: L06Y-0803474, dung tích xi lanh 97cm3, biển số 67F3 – 6101, đã qua sử dụng.

Vật chứng nêu trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.

3. Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Lâm Hoàng L phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - VKSND Tp.Long Xuyên;
  • - Thi hành án DS Tp.Long Xuyên;
  • - Nhà Tạm giữ Công an Tp. Long Xuyên;
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú;
  • - Bộ phận THAHS Tòa án;
  • - Người bị hại, liên quan (nếu có);
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng .

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Cẩm Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 103/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hình phạt 01 năm 06 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger