|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 103/2024/DS-ST
Ngày: 24-5-2024
V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thúy Liễu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trương Hoàng Sơn
- Bà Nguyễn Thị Tuyết Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thái Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 110/2024/TLST-DS ngày 07 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Lê Thị Bạch Y, sinh năm 1969; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
- Bị đơn: chị Phan Thị M, sinh năm 1974; Địa chỉ: Tổ G, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
Chị Phan Thị M hiện đang chấp hành án tại Phân trại 5 - Trại giam X, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/02/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Bạch Y trình bày:
Bà tham gia các dây hụi do chị Phan Thị M làm chủ hụi, cụ thể:
- Hụi 1.000.000 đồng khui ngày 15/02/2021 (âm lịch), gồm 24 phần, bà tham gia 01 phần ở dây 1. Bà đóng hụi sống được 9 kỳ thì chị M tuyên bố bể hụi, số tiền hụi thực tế bà đóng được là 5.697.000 đồng.
- Hụi 1.000.000 đồng khui ngày 15/02/2021 (âm lịch), gồm 24 phần, bà tham gia 01 phần ở dây 2. Bà đóng hụi sống được 9 kỳ thì chị M tuyên bố bể hụi, số tiền hụi thực tế bà đóng được là 5.615.000 đồng.
- Hụi 2.000.000 đồng khui ngày 10/5/2021 (âm lịch), gồm 20 phần, bà tham gia 02 phần. Bà đóng hụi sống được 6 kỳ thì chị M tuyên bố bể hụi, số tiền hụi thực tế bà đóng được là 15.630.000 đồng.
Tổng cộng số tiền hụi đã đóng là: 26.942.000 đồng
Tại Bản án hình sự số 95/2023/HS-ST ngày 22/12/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã tuyên buộc chị M bồi thường cho bà số tiền chiếm đoạt là 16.308.000 đồng.
Tại đơn khởi kiện, bà yêu cầu chị M trả số tiền hụi là 25.692.000 đồng. Ngoài ra, bà còn trình bày không đúng các dây hụi đã tham gia do nhớ không chính xác, sổ sách nộp hết cho cơ quan điều tra. Nay bà xác định lại các dây hụi tham gia như trên và thay đổi ý kiến, chỉ yêu cầu chị M trả số tiền hụi gốc là 26.942.000 đồng – số tiền chiếm đoạt đã xử lý trong vụ án hình sự 16.308.000 đồng = 10.634.000 đồng, không tính lãi.
Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Phan Thị M trình bày:
Bà Lê Thị Bạch Y có tham gia chơi hụi của chị, gồm: 02 dây hụi khui ngày 15/02/2020 ÂL, mỗi dây tham gia 1 phần và dây hụi 2.000.000 đồng khui ngày 10/5/2020 âm lịch tham gia 02 phần. Tổng cộng các dây hụi trên bà Y đóng được 29.200.000 đồng. Chị đồng ý trả cho bà Y số tiền hụi sau khi trừ đi số tiền chiếm đoạt đã giải quyết trong vụ án hình sự là 29.200.000 đồng – 16.308.000 đồng = 12.892.000 đồng.
Ý kiến của Viện kiểm sát:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại các Điều 26, 35, 39, Điều 68, Điều 93 đến 97, Điều 195, 196, 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Bạch Y đối với chị Phan Thị M về tranh chấp hợp đồng góp hụi; Buộc chị Phan Thị M trả cho bà Lê Thị Bạch Y số tiền 10.634.000 đồng, ghi nhận bà Y không yêu cầu tính lãi. Án phí đương sự chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: bà Lê Thị Bạch Y, chị Phan Thị M có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.
[2] Theo bản án hình sự sơ thẩm số 95/2023/HS-ST ngày 22 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử chị Phan Thị M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với hành vi mở nhiều dây hụi làm chủ thảo để các hụi viên tham gia nhằm hưởng hoa hồng, trong đó có dây hụi 1.000.000 đồng khui ngày 15/02/2021 (âm lịch) gồm 24 phần và hụi 2.000.000 đồng khui ngày 10/5/2021 (âm lịch) gồm 20 phần mà bà Lê Thị Bạch Y tham gia. Bản án xác định chị M có trách nhiệm bồi thường cho bà Y số tiền đã chiếm đoạt là 16.308.000 đồng. Quá trình làm việc các bên cũng thừa nhận việc tham gia hụi. Như vậy, có đủ cơ sở xác định đây là hợp đồng góp hụi theo quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự 2015.
[3] Về việc xác định các dây hụi đã tham gia và số tiền hụi thực đóng: theo kết quả điều tra của vụ án hình sự xác định bà Y tham gia các dây hụi như bà trình bày là đúng và số tiền thực đóng như sau: 02 dây hụi 1.000.000 đồng đóng được số tiền là 11.312.000 đồng và dây hụi 2.000.000 đồng đóng được số tiền là 15.630.000 đồng, tổng cộng là 26.942.000 đồng, bà Y cũng thống nhất số tiền này nên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Bạch Y, cần buộc chị Phan Thị M có trách nhiệm trả cho bà Lê Thị Bạch Y số tiền hụi gốc là 26.942.000 đồng, trừ số tiền chiếm đoạt đã giải quyết trong vụ án hình sự là 16.308.000 đồng đồng, còn lại 10.634.000 đồng, không tính lãi.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[4] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh là có căn cứ.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Chị Phan Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 10.634.000 đồng x 5% = 531.500 đồng.
Bà Lê Thị Bạch Y không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bà Y được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 642.000 đồng (sáu trăm bốn mươi hai nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005967 ngày 07/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 471 Bộ luật Dân sự 2015;
Điều 23 Nghị định 19/2019/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19/02/2019 về họ, hụi, biêu, phường;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” của bà Lê Thị Bạch Y đối với chị Phan Thị M.
Buộc chị Phan Thị M có trách nhiệm trả cho bà Lê Thị Bạch Y số tiền hụi gốc là 10.634.000 đồng (mười triệu sáu trăm ba mươi bốn nghìn đồng), không tính lãi.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí:
Chị Phan Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 531.500 đồng (năm trăm ba mươi mốt nghìn năm trăm đồng).
Bà Lê Thị Bạch Y không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bà Y được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 642.000 đồng (sáu trăm bốn mươi hai nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005967 ngày 07/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
Bản án số 103/2024/DS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 103/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu trả tiền nợ hụi
