Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 103/2024/HS-PT

Ngày: 23-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Giang.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quốc Tuấn;

Bà Phạm Thị Thùy Trang.

Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Út Nhỏ – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 108/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn L; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 45/2024/HS-ST ngày 04 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn L, sinh năm 2005; Tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L1 sinh năm 1985 và bà Trần Thị Mỹ H sinh năm 1985; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Văn T, ông Nguyễn Văn T1 - Luật sư của Công ty L2 - Thuộc đoàn luật sư tỉnh Tây Ninh. (Luật sư T1 có mặt, luật sư T có đơn đề nghị vắng mặt)

Ngoài ra, trong vụ án này còn có người đại diện hợp pháp của bị hại không có kháng cáo, kháng nghị. Tòa án không triệu tập

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 35 phút ngày 08/02/2024, bị cáo Nguyễn Văn L không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe môtô biển số 70E1-708.81 lưu thông trên đường B theo hướng từ xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh, đến xã L, huyện D. Khi đến khu vực ấp T, xã T, huyện D, bị cáo L điều khiển xe lấn sang phần đường bên trái nên va chạm với xe môtô biển số 70R2-0884 do bị hại Nguyễn Thị A điều khiển lưu thông theo chiều ngược lại làm 02 xe môtô và người ngã xuống đường. Hậu quả bà A bị thương tích nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ, đến ngày 09/02/2024 bà A chết.

Quá trình điều tra, bị cáo L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; đã bồi thường thiệt hại cho gia đình của bị hại, được gia đình của bị hại xin bãi nại.

Kết luận giám định tử thi số 341 ngày 21/02/2024 của Phòng K1 Công an T2 kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Thị A là do chấn thương sọ não.

Phiếu kết quả đo nồng độ cồn trong hơi thở ngày 08/02/2024 của Cảnh sát giao thông Công an huyện D đối với bị cáo Nguyễn Văn L thể hiện: Không có nồng độ cồn trong hơi thở.

Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể ngày 08/02/2024 của Công an xã T, huyện D thể hiện: Nguyễn Văn L âm tính với chất ma tuý trong cơ thể (Không có sử dụng trái phép chất ma túy).

Về bồi thường thiệt hại: Bị cáo L đã bồi thường tiền chi phí mai táng 50.000.000 đồng cho gia đình của bà A. Ông Bùi Tuấn K là người đại diện hợp pháp bị hại A không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 45/2024/HS-ST ngày 04 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đã xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án

Bản án còn tuyên về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 16-7-2024 bị cáo Nguyễn Văn L kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm;

Bị cáo Lê giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo. Lý do: Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, cha mẹ ly hôn; bị cáo sống với cha và cha mắc bệnh tim nên bị cáo phải nghỉ học từ năm lớp 9 để làm phụ cha; bản thân bị cáo có bệnh trầm cảm từ nhỏ.

Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa đề nghị:

Tại cấp phúc thẩm có căn cứ thể hiện ngoài số tiền đã bồi thường 50.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường tiền sửa chữa xe mô tô cho gia đình bị hại số tiền 16.500.000 đồng là tình tiết mới. Đề nghị căn cứ khoản 2 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Sửa bản án sơ thẩm; chấp nhận 01 phần kháng cáo của bị cáo, giảm mức hình phạt tù cho bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Bị cáo không tranh luận

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất tội danh đối với bị cáo, tuy nhiên mức hình phạt sơ thẩm áp dụng là quá nghiêm khắc.

Đề nghị xem xét các tình tiết sau đây: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại nơi xảy ra tai nạn là đường bờ kênh, điều kiện khách quan là trời tối, không có biển báo; Sau khi gây tai nạn bị cáo ra tự thú; đã bồi thường 50.000.000 đồng và tiếp tục bồi thường tiền sửa chữa xe mô tô của bị hại 16.500.000 đồng, phía đại diện bị hại có đơn bãi nại và tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ đủ điều kiện áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết 02 về án treo cho bị cáo L.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 16-7-2024 bị cáo L có đơn kháng cáo, qua xem xét đơn kháng cáo hợp lệ, đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[1.1] Theo biên bản thực nghiệm điều tra ngày 21-3-2024 (sau khi xảy ra tai nạn 01 tháng 13 ngày) thể hiện:

Điểm xảy ra tai nạn là đường bờ kênh thuộc ấp T, xã T - huyện D, hướng đi từ xã L về hướng ấp T, xã T, đường bờ kênh rãi đất đỏ, không bằng phẳng, không có đèn đường, không có biển báo giao thông, mặt bờ kênh rộng 4,6m. Về điểm va chạm giữa 2 xe thể hiện: Bên phải xe mô tô của bị cáo L va c với bên phải xe mô tô của bị hại A nên 2 xe ngã xuống đường. Có lỗ thủng trên mặt bờ kênh kích thước (0,5 x 0,1) cm, sâu 3cm. Việc thực nghiệm điều tra của Cơ quan điều tra – Công an huyện D là phù hợp Điều 204 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện như sau:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 08-02-2024, bị cáo Nguyễn Văn L đã điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 70E1-708-81 nhãn hiệu Wave Alpha, dung tích 110 cc, không có giấy phép lái xe theo quy định, chạy lấn sang bên trái của hướng đi, đâm vào xe mô tô biển kiểm soát số 70 R2-0884 do bị hại Nguyễn Thị A đang điều khiển đúng phần đường, hậu quả cả 2 xe mô tô và người ngã xuống đường, bị hại A bị chấn thương sọ não và chết vào ngày 09-02-2024. Nguyên nhân chính gây ra tai nạn giao thông là do bị cáo L điều khiển xe vi phạm khoản 1 Điều 9; khoản 3 Điều 13; khoản 1 Điều 17 của Luật Giao thông đường bộ: “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình”, hành vi vi phạm của bị cáo gây ra hậu quả làm chết người. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Vi pham quy định về tham gia giao thông” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông tại địa phương. Cần xử lý nghiêm bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

[4] Xét kháng cáo của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo nhận thức rõ khi điều khiển phương tiện xe mô tô Wave Alpha, dung tích 110 cc phải có giấy phép lái xe, phải lưu thông bên phải theo chiều đi của mình nhưng do trời tối, trên đường bờ kênh Đ thuộc ấp T, xã T không có bờ cản chắn bảo hiểm mà chỉ có các trụ xi măng cặm sát mép bờ kênh, do trời tối, đường rãi đất đỏ không bằng phẳng, có lỗ thủng trên mặt đường sợ chạy rơi xuống kênh nên bị cáo chạy lấn sang bên trái của hướng đi, đã không xử lý được tình huống, đụn vào xe mô tô của bị hại A đang điều khiển ngược chiều (đúng phần đường), lỗi thuộc về bị cáo, sau khi gây tai nạn bị cáo hoảng sợ bỏ chạy, sau đó ra Công an trình diện, đã khắc phục bồi thường 50.000.000 đồng cho gia đình bị hại, phía gia đình bị hại có đơn bãi nại yêu câu miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo vào ngày 17-3-2024 (BL 111, 112) là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Cấp sơ thẩm đã căn cứ Điều 54 của Bộ luật Hình sự, áp dụng mức án dưới khung hình phạt là phù hợp. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp tình tiết mới đã bồi thường tiền sửa chữa xe mô tô của bị hại số tiền 16.500.000 đồng và đại diện hợp pháp của bị hại tiếp tục yêu cầu xem xét giảm hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo. Đây là tình tiết mới, tuy nhiên do để đảm bảo tính răn đe, phòng ngu7na2 tội phạm giao thông trong tình hình hiện nay, không đủ điều kiện áp dụng chế định án treo cho bị cáo. Do đó, có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo về giảm một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp.

[5] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận 01 phần nên bị cáo không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự
  2. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L.

    Sửa bản án sơ thẩm số 45/2024/HS-ST ngày 04 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

  3. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
  4. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

  5. Án phí: Bị cáo không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
  6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Vụ Giám đốc kiểm tra TANDTC (Vụ1);
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh TN;
  • - Phòng PV 06;
  • - Sở tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - Công an huyện DMC;
  • - TAND huyện DMC;
  • - CCTHADS huyện DMC;
  • - VKSND huyện DMC;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu THS; hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thanh Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2024/HS-PT ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về hình sự phúc thẩm (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 103/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vi phạm quy định khi tham gia giao thông
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger