Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 103/2024/HSST

Ngày: 23-4-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

---

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Ngọc Loan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Quang và ông Đặng Quang Hoạch

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Phan Đăng Định - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, Tòa án tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2024/HSST, ngày 29/02/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST-HS, ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom đối với bị cáo:

Cao Thanh Đ, sinh năm 1987, tại: Đồng Nai. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ C, khu phố D, phường T, Tp ., tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cao Anh H (đã chết) và bà Nguyễn Thị Ngọc Á; Bị cáo có 01 con sinh năm 2012; Nhân thân:

  1. Ngày 30/9/2004, bị cáo bị Tòa án nhân dân Tp. Biên Hòa xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 567/2014/HSST, ngày 16/9/2014. Ngày 30/11/2004, bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phúc thẩm, tuyên y án sơ thẩm. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/11/2005.
  2. Ngày 28/02/2006, bị cáo bị Tòa án nhân dân Tp. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 123/2006/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/12/2006.
  3. Ngày 29/9/2008, bị cáo bị Tòa án nhân dân Tp. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 576/2008/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2010.

Tiền án:

  1. Ngày 16/9/2014, bị cáo bị Tòa án nhân dân Tp. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 567/2014/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/02/2015.
  2. Ngày 29/5/2015, bị cáo bị Tòa án nhân dân Tp. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 262/2015/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/4/2016.
  3. Ngày 24/01/2018, bị cáo bị Tòa án nhân dân Tp. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 32/2018/HSST. Ngày 09/5/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết định số 96/2018/HSPT-QĐ đình chỉ xét xử phúc thẩm do bị cáo rút toàn bộ đơn kháng cáo. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/7/2019.
  4. Ngày 18/6/2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân Tp. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 341/2021/HS-ST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/6/2023.

Tiền sự: Không; Bị cáo bị giam giữ từ ngày 06/11/2023. (Có mặt).

- Bị hại:

  • + Ông Lài Y C, sinh năm: 1990. Địa chỉ: Hẻm Đ, tổ A, khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt).
  • + Ông Lưu Văn H1, sinh năm: 1973. Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm: 1986. Địa chỉ: Tổ B, khu phố L, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cao Thanh Đ là đối tượng có 04 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Vào khoảng 7 giờ ngày 23/10/2023, Đ điều khiển xe mô tô biển số 60B8-615.10 đi đến thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai tìm tài sản để trộm cắp. Đến khoảng 7 giờ 45 phút cùng ngày, khi đi qua nhà ông Lài Y C ở khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Đ phát hiện nhà ông C không đóng cửa nên Đ đã dựng xe ngoài đường và đi vào phòng bếp thì thấy 01 điện thoại Iphone 12 promax màu xanh để trên bàn ăn. Đ lấy điện thoại bỏ vào túi quần bên trái và điều khiển xe tẩu thoát về hướng thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Đ đi đến tiệm điện thoại “Phúc Bảo” bán điện thoại Iphone 12 promax màu xanh vừa trộm cắp được với giá 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng). Sau khi mất điện thoại ông C đã làm đơn trình báo sự việc đến Công an thị trấn T. Công an thị trấn T đã chuyển hồ sơ vụ việc đến Công an huyện T giải quyết theo quy định. Đến ngày 06/11/2023, Đ bị Công an huyện T bắt người trong trường hợp khẩn cấp. Quá trình làm việc Đ còn khai nhận vào ngày 02/11/2023, Đ còn trộm cắp 01 điện thoại Samsung Galaxy A2 màu đen của anh Lưu Văn H1 ở ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Bút lục 110-130).

Tại Bản kết luận định giá số 132/KL ngày 10/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận như sau: "01 điện thoại Iphone 12 promax màu xanh trị giá 10.833.333 đồng (Mười triệu tám trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng)" (Bút lục 61).

Tại Bản kết luận định giá số 08/KL ngày 12/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận như sau: "01 điện thoại Samsung Galaxy A2 màu đen trị giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng)" (Bút lục số 70).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Cao Thanh Đ về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự để điều tra theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số 82/CT-VKSTB, ngày 29/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: HĐXX áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 04 năm tù. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Tòa án tuyên tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm, 01 quần Jean màu đen, 01 áo khoác màu xám Đ sử dụng đi trộm cắp.

Về dân sự: Đề nghị Tòa án buộc bị cáo phải bồi thường cho ông L Y Chìu số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí DSST và HSST theo quy định.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong khoảng thời gian từ ngày 23/10/2023 đến 02/11/2023, Cao Thanh Đ có hành vi trộm cắp 01 điện thoại Iphone 12 promax màu xanh của ông Lài Y C tại khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai trị giá 10.833.333 đồng (Mười triệu tám trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng) và trộm cắp 01 điện thoại Samsung Galaxy A2 màu đen của anh Lưu Văn H1 ở ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai trị giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Tổng trị giá tài sản Đ trộm cắp là 11.833.333 đồng (Mười một triệu, tám trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng). Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS.

[2] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ.

[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thì thấy: bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xét xử rất nhiều lần về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Xử lý vật chứng:

  • [4.1] Đối với 01 điện thoại Iphone 12 promax màu xanh, anh Nguyễn Văn V mua của Đ đã tháo ra bán linh kiện nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không thu hồi được.
  • [4.2] Đối với 01 điện thoại Samsung Galaxy A2 màu đen Đ khai bán cho T điện thọai “Phúc Bảo” Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã truy tìm nhưng không thu hồi được.
  • [4.3] Đối với xe mô tô biển số 60B8-615.10 và giấy chứng nhận đăng ký xe, Đ mượn của chị Mai Thị Thanh T1. Chị T1 không biết Đ sử dụng xe trên để trộm cắp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho chị T1.
  • [4.4] Đối với 01 mũ bảo hiểm, 01 quần Jean màu đen, 01 áo khoác màu xám Đ sử dụng đi trộm cắp tài sản cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

  • [5.1] Ông L Y Chìu yêu cầu Đ bồi thường số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), Đ đồng ý bồi thường như ông C yêu cầu nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
  • [5.2] Anh Lưu Văn H1 không yêu cầu Đ bồi thường đối với chiếc điện thoại Samsung Galaxy A2 màu đen nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Đối với anh Nguyễn Văn V mua điện thoại của Đ không biết điện thoại trên do Đ trộm cắp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không có cơ sở để xử lý.

[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom về tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt thì thấy phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

[9] Xét tính hợp pháp của các quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì thấy đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Cao Thanh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Cao Thanh Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/11/2023.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm, 01 quần Jean màu đen, 01 áo khoác màu xám (Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/02/2024).
  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo Cao Thanh Đ phải trả cho ông L Y Chìu số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng). Kể từ ngày ông Lài Y C có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền trên, nếu bị cáo Cao Thanh Đ chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả với mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự cho ông Lài Y C.
  4. Về án phí: Căn cứ điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Cao Thanh Đ phải nộp 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm và 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, người có mặt tính từ ngày tuyên án, người vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

- Bị hại;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan;

- Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;

- VKSND huyện Trảng Bom;

- VKSND tỉnh Đồng Nai;

- Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bom;

- Bộ phận T.H.A hình sự;

- T.H.A.H.S Công an tỉnh Đồng Nai;

- Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;

- UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;

- Lưu hồ sơ.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Ngọc Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2024/HSST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 103/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger