|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 103/2024/HS-ST Ngày: 22-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đậu Thị Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Tiền Giang;
Ông Nguyễn Văn Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thùy Trang – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Phong- Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 132/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Lê Văn T, sinh năm 1989, tại tỉnh Thanh Hoá; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T1 và bà Nguyễn Thị Đ; có vợ tên Nguyễn Thị Đ1 (đã ly hôn) và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- + Ngày 24/02/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 17 tháng 18 ngày về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 02/2011/HSST.
- + Ngày 30/6/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo Bản án số 14/2020/HS-ST.
Ngày 01/12/2023 bị bắt theo quyết định truy nã, bị tạm giữ và chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T cho đến nay. Có mặt.
Bị hại: Công ty TNHH C; địa chỉ: T đất số 96, tờ bản đồ số 1, khu phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Người đại diện hợp pháp của công ty: Ông Hồ Diên T2, chức vụ: Giám đốc, là người đại diện theo pháp luật. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị N. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để có tiền tiêu xài, Lê Văn T nảy sinh ý định đi tìm tài sản của người dân sơ hở trong quản lý để thực hiện hành vi chiếm đoạt, sau đó mang đi bán lấy tiền tiêu xài.
Khoảng 04 giờ ngày 09/11/2018, T điều khiển xe mô tô biển số 36B6-217.30 đi từ nhà trọ tại khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương đến khu vực thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương để tìm tài sản chiếm đoạt. Khi đến trước Công ty TNHH C (Gọi tắt Công ty) tại khu phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì T quan sát thấy phía trước Công ty gần đường ĐT 747B có để nhiều loại sắt không có hàng rào bảo vệ, không có người trông coi nên T đi vào lấy khoảng 60kg sắt vụn bỏ vào 02 bao tải nhặt được rồi chất lên xe. Sau đó, chở đến khu vực gần cây xăng K thuộc phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương bán cho đối tượng tên P (không rõ lai lịch) nhưng chưa lấy tiền từ P do T nói đợi T tiếp tục lấy trộm sắt đem đến bán cho P. Sau đó, T tiếp tục quay trở lại Công ty lấy trộm thêm 03 khung bồn xylon hình chữ nhật được làm bằng sắt V5, chiều ngang 300cm, chiều rộng 180cm rồi đem đến bán cho P. P trả cho T số tiền 560.000 đồng.
Đến khoảng 04 giờ 30 phút ngày 10/11/2018, T tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 36B6-217.30 đi đến Công ty TNHH C để trộm tài sản. Với thủ đoạn tương tự, T lấy trộm 05 cái mặt bích hình vòng tròn, đường kính đáy 70cm, 02 cái chụp nón rỗng bên trong, đường kính đáy là 120cm, chiều cao 40cm, 04 tấm tôn 3ly, chiều ngang 250cm, chiều rộng 120cm đem đến bán cho P với giá 760.000 đồng.
Đến khoảng 04 giờ ngày 11/10/2018, T tiếp tục đi đến Công ty TNHH C với ý định lấy trộm tài sản thì bị ông Hồ Diên T2 cùng vợ là bà Nguyễn Thị N phát hiện nên giữ Lê Văn T lại và trình báo Công an phường T. Tại Công an phường T, Lê Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt 60kg sắt phế liệu; 02 cái chụp nón rỗng bên trong, đường kính đáy là 120cm, chiều cao 40cm; 05 cái mặt bích hình vòng tròn, đường kính đáy 70cm; 03 cái khung bồn xylon hình chữ nhật được làm bằng sắt V5, chiều ngang 300cm, chiều rộng 180cm và 04 tấm tôn 3ly, chiều ngang 250cm, chiều rộng 120cm của Công ty TNHH C. Sau đó, Công an phường T lập hồ sơ vụ việc ban đầu và chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T thụ lý theo thẩm quyền. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ các tài liệu, đồ vật liên quan gồm: 01 điện thoại di động hiệu S1; 01 xe mô tô biển số 36B6-217.30; 01 áo khoác dài tay.
Quá trình điều tra Lê Văn T bỏ đi khỏi nơi cư trú. Ngày 13/3/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã thông báo truy tìm đối tượng số 285/TB-CQĐT; Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm số 50 ngày 13/3/2019; Đến ngày 01/11/2023 ra Quyết định phục hồi việc giải quyết nguồn tin về tội phạm; Đến ngày 03/11/2023 ra Quyết định khởi tố vụ án số 295/QĐ-ĐTTH; Quyết định khởi tố bị can số 600/QĐ-CQĐT; Quyết định truy nã số 20/QĐTN.
Ngày 01/12/2023, Lê Văn T bị bắt trong trường hợp bắt người đang bị truy nã. Quá trình làm việc Lê Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Theo Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 61/KL-HĐĐGTS ngày 26/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 04 tấm tôn 3ly, chiều ngang 250cm, chiều rộng 120cm, chưa qua sử dụng, tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị 960.000 đồng; 60kg sắt phế liệu, tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị 210.000 đồng. Tổng giá trị là 1.170.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 129/KL-HĐĐGTS ngày 01/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 02 chiếc chụp nón rỗng bên trong, đường kính đáy là 120cm, chiều cao 40cm, vành đáy làm bằng sắt la 5ly, rộng 05cm, chóp nón được làm bằng tôn 2,5ly, có giá trị 2.580.000 đồng; 05 cái mặt bích hình vòng tròn, đường kính đáy 70cm, được làm bằng sắt la 5ly, rộng 05cm, có giá trị 725.000 đồng; 03 cái khung bồn xylon hình chữ nhật được làm bằng sắt V5, chiều ngang 300cm, chiều rộng 180cm, bên trong khung bồn có 02 thanh sắt V5, mỗi thanh dài 180cm và 02 thanh sắt V5, mỗi thanh dài 360cm được đan chéo nhau, có giá trị 5.391.000 đồng. Tổng giá trị là 8.696.000 đồng.
Đối với các tài sản bị Lê Văn T chiếm đoạt, quá trình điều tra xác minh đến nay không thu hồi được.
Xe mô tô biển số 36B6-217.30 do bà Nguyễn Thị Đ1 là vợ của Lê Văn T đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Quá trình sử dụng bà Đ1 cho T mượn xe mô tô này để đi lại và T đã sử dụng xe mô tô này để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bà Đ1 không có yêu cầu gì đối với chiếc xe.
Bản Cáo trạng số: 139/CT-VKSTU ngày 08/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
- + Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- + Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Đối với các tài sản bị Lê Văn T chiếm đoạt, quá trình điều tra xác minh đến nay không thu hồi được. Do đó, không đề cập xử lý.
Đối với mô tô biển số 36B6-217.30 do bà Nguyễn Thị Đ1 là vợ của Lê Văn T đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Quá trình sử dụng bà Đ1 cho T mượn xe mô tô này để đi lại và T sử dụng xe mô tô này để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do đó, cần tuyên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Sam sung bị cáo sử dụng để liên lạc với đối tượng tên P để bán tài sản trộm cắp. Do đó, cần tuyên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 áo khoác dài tay không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- + Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
- - Bị cáo Lê Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm trở thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và kết luận định giá. Do đó, có đủ căn cứ kết luận:
Vào các ngày 09/11/2018 và ngày 10/11/2018, tại Công ty TNHH C thuộc khu phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Lê Văn T có hành vi lén lút chiếm đoạt các tài sản gồm: 60kg sắt phế liệu; 02 cái chụp nón rỗng bên trong, đường kính đáy là 120cm, chiều cao 40cm, vành đáy được làm bằng sắt la 5ly, rộng 5cm, chóp nón được làm bằng tôn 2,5ly; 05 cái mặt bích hình vòng tròn, đường kính đáy 70cm, được làm bằng sắt la 5ly, rộng 05cm; 03 cái khung bồn xylon hình chữ nhật được làm bằng sắt V5, chiều ngang 300cm, chiều rộng 180cm, bên trong khung bồn có 02 thanh sắt V5, mỗi thanh dài 180cm và 02 thanh sắt V5, mỗi thanh dài 360cm được đan chéo nhau và 04 tấm tôn 3ly, chiều ngang 250cm, chiều rộng 120cm chưa qua sử dụng.Tại thời điểm bị chiếm đoạt các tài sản trên trị giá 9.866.000 đồng.
Do đó, hành vi của bị cáo Lê Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[3] Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo về tội danh, khung hình phạt là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm nhưng vì động cơ tư lợi, bị cáo lợi dụng sự sơ hở của người khác trong việc quản lý rồi lén lút chiếm đoạt tài sản của họ. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, lỗi của bị cáo là cố ý trực tiếp. Sau khi phạm tội đã bỏ trốn khỏi địa phương gây khó khăn cho việc điều tra, giải quyết vụ án. Trong thời gian bỏ trốn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội và bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, điều đó thể hiện ý thức của bị cáo xem thường pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng, nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Về nhân thân. Bị cáo có nhân thân xấu, Ngày 24/02/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 17 tháng 18 ngày về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 02/2011/HSST. Ngày 30/6/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo Bản án số 14/2020/HS-ST.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 02 lần trở lên, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[8] Lời đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa có căn cứ, đúng luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận.
[9] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- + Đối với các tài sản bị Lê Văn T chiếm đoạt, quá trình điều tra xác minh đến nay không thu hồi được. Do đó, không đề cập xử lý.
- + Đối với mô tô biển số 36B6-217.30, qua tra cứu xác định do bà Nguyễn Thị Đ1 là vợ của Lê Văn T đứng tên đăng ký chủ sở hữu, là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Quá trình sử dụng bà Đ1 cho T mượn xe mô tô này để đi lại, sau đó T đã sử dụng xe mô tô này để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Việc T sử dụng xe mô tô này vào mục đích phạm tội bà Đ1 không biết, tuy nhiên bà Đ1 không có yêu cầu nhận lại chiếc xe này. Bị cáo, sử dụng chiếc xe để làm phương tiện thực hiện hành phạm tội. Do đó, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- + Đối với 01 điện thoại di động hiệu Sam sung bị cáo sử dụng để liên lạc với đối tượng tên P để trao đổi việc bán tài sản trộm cắp. Do đó, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- + Đối với 01 áo khoác dài tay không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 17.320.000 đồng. Tuy nhiên theo nội dung của văn bản trình bày ý kiến và yêu cầu xét xử vắng mặt thì xác định không có yêu cầu bị cáo bồi thường bất kỳ khoản tiền nào. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[11] Đối với người phụ nữ tên P (không rõ lai lịch) mà bị cáo khai mua tài sản do bị cáo trộm cắp bán. Quá trình điều tra đến nay không xác định được lai lịch. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục điều tra xử lý sau.
[12] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
-
Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/12/2023.
-
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô biển số 36B6-217.30 kiểu dáng Honda Wave, số máy: JA39-0336000, số khung: RLHJA3905HY335998, màu xanh trắng, kính chiếu hậu phải, không kiểm tra máy; 01 điện thoại di động hiệu S1.
Tịch thu tiêu huỷ 01 áo khoác dài tay.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương).
-
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đậu Thị Loan |
Bản án số 103/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 103/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê văn Th phạm tội trộm cắp tài sản
