|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 103/2024/KDTM-ST Ngày: 22-5-2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Hiếu
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đình Tuấn
2. Bà Phạm Thị Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Trúc Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Mỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 135/2023/TLST-KDTM ngày 25 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 195/2024/QĐXXST-KDTM ngày 03 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S;
Trụ sở: 2 N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Quốc T, sinh năm 1979 (theo văn bản ủy quyền ngày 21/3/2024); địa chỉ liên hệ: D Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
2. Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn E;
Trụ sở: F Â, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông Trần Hữu P, sinh năm 1990; chức danh: Giám đốc. (Vắng mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Quốc P1, sinh năm 1975; địa chỉ: E H, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản làm việc tại Tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có ông Nguyễn Quốc T trình bày:
Công ty TNHH E (Sau đây gọi tắt là Công ty E1 hoặc bị đơn) có ký các hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S – Chi nhánh B, nay là Ngân hàng Thương mại Cổ phần S – Chi nhánh H1 (sau đây gọi tắt là S1 hoặc nguyên đơn), chi tiết như sau:
1. Hợp đồng tín dụng số: LD1915500013 ngày 04/6/2019; Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 01/LD1915500013 ngày 26/4/2021.
- Số tiền vay: 3.300.000.000 (bằng chữ: Ba tỷ ba trăm triệu) đồng.
- Lãi suất vay: Lãi suất 03 tháng đầu tiên: 12,5%/năm. Lãi suất này chỉ áp dụng cho lần giải ngân đầu tiên, các lần giải ngân sau (nếu có), lãi suất do S1 xác định tại thời điểm giải ngân và được ghi cụ thể trên từng Giấy nhận nợ (theo mẫu của S1).
- Mục đích sử dụng: Bổ sung vốn kinh doanh.
Tính đến ngày 10/04/2024, Công ty E1 còn nợ 2.089.697.013 đồng (bao gồm: 1.540.000.000 đồng tiền nợ vốn, 306.440.934 đồng tiền nợ lãi trong hạn và 243.256.079 đồng tiền nợ lãi quá hạn).
2. Hợp đồng tín dụng số: [...] ngày 05/02/2021; Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 01/202125983914 ngày 26/4/2021.
-Số tiền vay: 500.000.000 (bằng chữ: Năm trăm triệu) đồng.
- Lãi suất vay: Lãi suất 03 tháng đầu tiên: 12%/năm. Lãi suất này chỉ áp dụng cho lần giải ngân đầu tiên, các lần giải ngân sau (nếu có), lãi suất do S1 xác định tại thời điểm giải ngân và được ghi cụ thể trên từng Giấy nhận nợ (theo mẫu của S1)
- Mục đích sử dụng: Bổ sung vốn kinh doanh.
Tài sản bảo đảm cho các khoản vay nêu trên là bất động sản thuộc thửa đất số 09, tờ bản đồ số 78, địa chỉ: A P, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (số cũ A Đường số H, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh), thuộc sở hữu của ông Trần Quốc P1 theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 23/HĐTC/2021.BT, số công chứng 003064 ngày 05/02/2021, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD.
Trong quá trình vay, Công ty E1 thường xuyên thanh toán khoản vay trễ hạn cho Ngân hàng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng khách hàng vẫn không có thiện chí trả nợ. Do Công ty E1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ, ngày 07/01/2023 S1 đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn.
Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán toàn bộ số nợ gốc và lãi vay theo các hợp đồng tín dụng đã ký, tổng số tiền tạm tính đến 10/4/2024 là 2.625.710.708 đồng, trong đó:
- Hợp đồng tín dụng số LD1915500013:
+ Nợ gốc: 1.540.000.000 đồng;
+ Nợ lãi trong hạn: 306.440.934 đồng;
+ Nợ lãi quá hạn: 243.256.079 đồng.
- Hợp đồng tín dụng số [...]:
+ Nợ gốc: 399.992.000 đồng;
+ Nợ lãi trong hạn: 96.843.840 đồng;
+ Nợ lãi quá hạn: 39.177.855 đồng.
Trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là bất động sản thuộc thửa đất số 09, tờ bản đồ số 78, địa chỉ: A P, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (số cũ A Đường số H, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh) thuộc sở hữu của ông Trần Quốc P1 để thu hồi nợ vay.
Bị đơn – Công ty E1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Trần Quốc P1, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lên Tòa để trình bày ý kiến; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do, cũng không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án.
Tại phiên tòa,
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Quốc T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc Công ty E1 phải có nghĩa vụ hoàn trả ngay toàn bộ số nợ vốn và lãi vay theo hợp đồng tín dụng đã ký. Tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 22/5/2024 là 2.672.561.942 đồng, trong đó:
- Hợp đồng tín dụng số LD1915500013:
+ Nợ gốc: 1.540.000.000 đồng;
+ Nợ lãi trong hạn: 307.556.680 đồng;
+ Nợ lãi quá hạn: 280.224.919 đồng.
- Hợp đồng tín dụng số [...]:
+ Nợ gốc: 399.992.000 đồng;
+ Nợ lãi trong hạn: 99.532.242 đồng;
+ Nợ lãi quá hạn: 45.256.101 đồng.
Công ty E1 còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày 23/5/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ.
Trường hợp, Công ty E1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì S1 được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
Bị đơn – Công ty E1 vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Trần Quốc P1 vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp. Kiến nghị Tòa án vi phạm thời hạn chuẩn vị xét xử vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung: Xét thấy các chứng cứ trong hồ sơ vụ án và phần tranh tụng tại phiên tòa đã đầy đủ, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày và tranh luận của các bên đương sự và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và Công ty TNHH E có ký kết hợp đồng tín dụng có tài sản đảm bảo; bên vay đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng tín dụng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bên vay thanh toán là phù hợp với quy định tại Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn - Công ty E1 có địa chỉ trụ sở tại Phường A, quận T nên Tòa án nhân dân quận Tân Bình thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn - Công ty E1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Trần Quốc P1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn:
[2.1] Về yêu cầu bị đơn thanh toán khoản tiền còn thiếu tạm tính đến ngày 22/5/2024 là 2.672.561.942 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ Hợp đồng tín dụng số: LD1915500013 ngày 04/6/2019; Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 01/LD1915500013 ngày 26/4/2021 ngày 04/6/2019; Theo Giấy nhận nợ phát sinh số: LD1915500013 ngày 04/6/2019; Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Giấy nhận nợ số: 01/LD1915500013 ngày 26/4/2021; Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Giấy nhận nợ số: 02/LD1915500013 ngày 25/10/2021; Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Giấy nhận nợ số: 03/LD1915500013 ngày 27/4/2022;
Căn cứ Hợp đồng tín dụng số: [...] ngày 05/02/2021; Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 01/202125983914 ngày 26/4/2021; Giấy nhận nợ phát sinh số: LD2104000358 ngày 09/02/2021; Thỏa thuận sửa
đổi, bổ sung Giấy nhận nợ số: 01/LD2104000358 ngày 26/4/2021; Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Giấy nhận nợ số: 02/LD2104000358 ngày 25/10/2021; Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Giấy nhận nợ số: 03/LD2104000358 ngày 27/4/2022;
Thể hiện bị đơn đã được Ngân hàng giải ngân nhiều lần với tổng số tiền cho vay là 3.800.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền nợ gốc và lãi từ ngày 28/12/2022. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở, trực tiếp làm việc yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ nhưng bị đơn vẫn cố tình không thực hiện. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản khác có liên quan cho bị đơn nhưng bị đơn không có ý kiến tranh chấp hay phản đối. Như vậy, có cơ sở xác định bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền nợ gốc của các hợp đồng tín dụng nêu trên là 1.939.992.000 đồng và tiền nợ lãi (gồm lãi trong hạn và lãi quá hạn) là 732.569.942 đồng như nguyên đơn trình bày. Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn có trách nhiệm trả số công nợ còn thiếu là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Về yêu cầu bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng cho vay đã ký kết từ ngày 23/5/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ: Xét thấy yêu cầu này là có căn cứ và phù hợp với thỏa thuận đã ký kết giữa các bên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3] Về phương thức và thời hạn thanh toán: Bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã lâu gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bị đơn trả một lần toàn bộ tiền nợ còn thiếu ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật như phía nguyên đơn yêu cầu.
[2.4] Về yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm đã thế chấp để thu hồi nợ của nguyên đơn: Nguyên đơn yêu cầu trong trường hợp bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp: Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số 09, tờ bản đồ số 78, địa chỉ: A P, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (số cũ A Đường số H, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh), thuộc sở hữu của ông Trần Quốc P1 theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 23/HĐTC/2021.BT, số công chứng 003064 ngày 05/02/2021, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD.
Xét tài sản thế chấp thực hiện theo đúng quy định pháp luật về thế chấp (có ký hợp đồng thế chấp theo quy định và đã đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền) nên việc thế chấp phát sinh hiệu lực pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.
[3] Như đã nhận định trên Hội đồng xét xử đồng ý với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tại phiên tòa về việc đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[5] Về án phí, chi phí tố tụng:
- Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí trên số tiền 2.672.561.942 đồng phải trả cho nguyên đơn. Án phí bị đơn phải chịu là 85.451.239 đồng. Hoàn lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- Áp dụng Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 10.000.000 đồng. Nguyên đơn đã tạm ứng số tiền này nên bị đơn có nghĩa vụ thanh toán lại cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 157, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 299, 320, 322, 323, 463, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010
Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại Cổ phần S:
1.1. Công ty Trách nhiệm hữu hạn E có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ tạm tính đến ngày 22/5/2024 là 2.672.561.942 đồng (Hai tỷ, sáu trăm bảy mươi hai triệu, năm trăm sáu mươi mốt ngàn, chín trăm bốn mươi hai) đồng (trong đó bao gồm: tiền nợ gốc 1.939.992.000 đồng và tiền nợ lãi là 732.569.942 đồng) để chấm dứt nghĩa vụ thanh toán trong Hợp đồng tín dụng số LD1915500013 ngày 04/6/2019 và Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 05/02/2021 cùng các văn bản có liên quan mà các bên đã ký kết.
Phương thức và thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần toàn bộ số tiền trên ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn E còn phải tiếp tục trả các khoản tiền lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng cho vay đã ký kết từ ngày 23/5/2024 quy định tại hợp đồng tín dụng các bên đã ký nêu trên.
1.2. Trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn E không thanh toán được số nợ nói trên, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là: Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số 09, tờ bản đồ số 78, địa chỉ: A P, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (số cũ A Đường số H, Phường A, quận T,
Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số hồ sơ gốc số 10484/98 do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp ngày 21/8/1998 (đã cập nhật biến động ngày 21/6/2005 và cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 02/6/2017 mang tên Trần Quốc P1), để thu hồi nợ.
Khi Công ty Trách nhiệm hữu hạn E thanh toán hết số nợ trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có nghĩa vụ hoàn trả lại toàn bộ bản chính các giấy tờ liên quan tài sản bảo đảm cho bên thế chấp.
Nếu sau khi phát mãi mà giá trị phát mãi nhỏ hơn nghĩa vụ thanh toán nợ của Công ty Trách nhiệm hữu hạn E đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S thì Công ty Trách nhiệm hữu hạn E có trách nhiệm thanh toán tiếp số tiền còn thiếu.
Trường hợp nếu sau khi phát mãi mà giá trị phát mãi lớn hơn nghĩa vụ thanh toán nợ của Công ty Trách nhiệm hữu hạn E đối với Ngân hàng thì hoàn trả phần giá trị chênh lệch cho bên thế chấp nếu tài sản thế chấp không bảo đảm cho nghĩa vụ khác.
2. Về chi phí tố tụng và án phí:
- Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 10.000.000 (Mười mươi triệu) đồng do Công ty Trách nhiệm hữu hạn E. Công ty Trách nhiệm hữu hạn E có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S 10.000.000 (Mười mươi triệu) đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng đã tạm ứng.
- Công ty Trách nhiệm hữu hạn E phải chịu án phí sơ thẩm là 85.451.239 đồng (T1 mươi lăm triệu, bốn trăm năm mươi mốt ngàn, hai trăm ba mươi chín) đồng. Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 37.905.694 (Ba mươi bảy triệu, chín trăm lẻ năm ngàn, sáu trăm chín mươi tư) đồng, theo biên lai số 0023829 ngày 16/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Hiếu |
Bản án số 103/2024/KDTM-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 103/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng S và Công ty E
