TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 103/2023/HNGĐ-ST Ngày: 21/8/2023 Về việc tranh chấp: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Long Hồ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Thanh Hòa.
- Bà Đào Thị Tuyết Mai.
- Thư ký phiên Tòa: Bà Trần Thị Thảo Nguyên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Loan – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 187/2023/TLST–HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 73/2023/QÐST- HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Cẩm N, sinh năm 1993 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Anh Võ Nguyễn Minh T, sinh năm 1994 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn đề ngày 05/5/2023, bản tự khai ngày 26/6/2023 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Trần Thị Cẩm N trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh T tự nguyện tiến tới hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, cưới nhau năm 2019 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T vào năm 2019. Thời gian đầu sống chung có hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh T không quan tâm lo cho vợ con, dẫn đến thường xuyên cự cãi nhau và anh chị đã ly thân từ năm 2022 cho đến nay, mỗi người một cuộc sống riêng, không ai quan tâm ai. Nay, thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị yêu cầu Tòa án cho ly hôn với anh T.
- Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng anh chị có 01 chung tên là Võ Trần Minh A, sinh ngày 26/11/2020. Hiện con chung đang sống chung với chị N, nếu Tòa án cho ly hôn thì chị yêu cầu nuôi con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện B đã tống đạt hợp lệ cho anh Võ Nguyễn Minh T các văn bản tố tụng nhưng anh T vắng mặt không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như phiên tòa xét xử vụ án mặc dù anh vẫn còn sinh sống tại địa phương nên Tòa án không thu thập được lời khai của anh Võ Nguyễn Minh T.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Đối với Thẩm phán có chấp hành tốt theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, thực hiện đúng các nguyên tắc do pháp luật quy định. Đối với những người tham gia tố tụng thì nguyên đơn có chấp hành tốt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt là vi phạm nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Cẩm N đối với anh Võ Nguyễn Minh T. Cho chị Trần Thị Cẩm N được ly hôn với anh Võ Nguyễn Minh T.
- Về con chung: Chị Trần Thị Cẩm N được nuôi con chung tên Võ Trần Minh A, sinh ngày 26/11/2020. Ghi nhận chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trần Thị Cẩm N khai không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Trần Thị Cẩm N khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh Võ Nguyễn Minh T đó, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này được xác định là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 14 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và khoản 1 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Võ Nguyễn Minh T đăng ký thường trú và hiện đang sinh sống tại ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre. Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện B.
[3] Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Võ Nguyễn Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để xét xử nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt anh T là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
[4] Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh T cưới nhau vào năm 2019 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 12/10/2019 theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh T được công nhận hợp pháp.
Nay, chị N yêu cầu ly hôn anh T vắng mặt nên không có lời khai. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của chị N trong quá trình giải quyết vụ án, đều xác định được cuộc sống vợ chồng của anh chị đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không cùng quan điểm sống, anh T không quan tâm chăm lo cho gia đình, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cãi nên anh chị đã ly thân từ năm 2022 cho đến nay, mỗi người đã có một cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai.
Toà án đã tiến hành mời chị N và anh T để hoà giải, nhằm cho các bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh T vẫn vắng mặt không lý do, điều đó cho thấy anh T đã không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này.
Vậy, có cơ sở để Hội đồng xét xử xác định giữa chị N và anh T đã không còn quan tâm, chăm sóc đến cuộc sống của nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình. Điều đó cũng chứng tỏ hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị N là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về con chung: Trong quá trình sống chung giữa chị N và anh T có 01 chung tên là Võ Trần Minh A, sinh ngày 26/11/2020. Hiện con chung đang sống chung với chị N. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được nuôi con chung.
Xét thấy rằng: Từ khi ly thân đến nay, con chung đều sống chung với chị N, việc chị N nuôi con chung vẫn phát triển bình thường, nhằm để ổn định về tinh thần, quyền lợi về mọi mặt của con chung nên để chị N nuôi con chung là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên yêu cầu của chị N được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị Cẩm N nuôi con chung nhưng không yêu cầu anh Võ Nguyễn Minh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[7] Về tài sản chung: Chị N khai không có nên không xét đến.
[8] Về nợ chung: Chị N khai không có nên không xét đến.
[9] Lời đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với quy định pháp luật và nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
[10] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chị Trần Thị Cẩm N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Cẩm N đối với anh Võ Nguyễn Minh T.
Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Cẩm N và anh Võ Nguyễn Minh T.
Quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị Cẩm N và anh Võ Nguyễn Minh T theo Giấy chứng nhận kết hôn số 43, ngày 12 tháng 10 năm 2019 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung:
Giao con chung Võ Trần Minh A, sinh ngày 26/11/2020 cho chị Trần Thị Cẩm N trực tiếp nuôi dưỡng.
Ghi nhận sự tự nguyện chị Trần Thị Cẩm N không yêu cầu anh Võ Nguyễn Minh T cấp dưỡng nuôi con.
Anh Võ Nguyễn Minh T không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở.
Chị Trần Thị Cẩm N trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Võ Nguyễn Minh T trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định việc thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị Trần Thị Cẩm N khai không có nên không xét đến.
- Về nợ chung: Chị Trần Thị Cẩm N khai không có nên không xét đến.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
Chị Trần Thị Cẩm N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004900 ngày 02 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Bến Tre. Vậy, chị Trần Thị Cẩm N đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Chị Trần Thị Cẩm N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án, anh Võ Nguyễn Minh T vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Long Hồ |
Bản án số 103/2023/HNGĐ-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE về ly hôn
- Số bản án: 103/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị N xin ly hôn anh T
