TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN Bản án số: 103/2025/HS-ST Ngày: 01 - 12 - 2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phượng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Chu Thị Hồng Nhật
2. Bà Nguyễn Ngọc Hà
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Mạnh Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên tham gia phiên toà:
Bà Hoàng Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70A/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2025 và thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số: 10/TB-TA ngày 24/11/2025 và số 11/TB-TA ngày 27/11/2025 đối với bị cáo:
Trần Văn T, sinh ngày 23/8/1983
Nơi cư trú: thôn T, xã T, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn T1 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị S, sinh năm 1959; vợ: Vũ Thị T2, sinh năm 1987 (đã ly hôn); con: có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Quyết định áp dụng đưa người vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc số 2822/QĐ-UB ngày 04/10/2013 của UBND thành phố T (cũ), thời hạn 12 tháng, đã chấp hành xong ngày 21/9/2014.
Bị cáo bắt, tạm giữ từ ngày 02/8/2025, đến ngày 08/8/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an tỉnh H.
(Trích xuất có mặt tại phiên toà)
Người chứng kiến:
- + Anh Nguyễn Hữu T3, sinh năm 1995
- Nơi cư trú: thôn T, xã T, tỉnh Hưng Yên
(Vắng mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 02/8/2025, Trần Văn T đi bộ từ nhà ở thôn T, xã T, tỉnh Hưng Yên đến khu vực chân cầu T, thuộc địa phận tỉnh Ninh Bình để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp và mua của một người đàn ông khoảng 50 tuổi 200.000 đồng được 01 túi nilon trong suốt có mép cài viền, bên trong chứa chất dạng tinh thể trong suốt là ma túy đá. Tuyến cất giấu gói ma túy vừa mua được vào túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi đi về nhà. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đang đi bộ trên đường bến phà cũ thuộc địa phận thôn T, xã T, tỉnh Hưng Yên thì bị tổ công tác công an xã T yêu cầu cho kiểm tra. Trước sự chứng kiến của anh Nguyễn Hữu T3, sinh năm 1995, cư trú tại thôn T, xã T, tỉnh Hưng Yên, Trần Văn T tự nguyện lấy từ trong túi quần bên phải phía trước 01 túi nilon trong suốt có mép cài viền, bên trong chứa chất dạng tinh thể trong suốt, T khai nhận đó là ma túy đá T mua về để sử dụng cho bản thân. Tiếp tục kiểm tra người Tuyến, lực lượng Công an không phát hiện, thu giữ gì. Tổ công tác đã đưa T và người chứng kiến về trụ sở Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Hưng Yên để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật tài liệu.
Quá trình điều tra, truy tố bị cáo Trần Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản kết luận giám định số 723/KL-KTHS ngày 06/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamin, có khối lượng 0,3025 gam (Không phẩy ba nghìn không trăm hai mươi lăm gam). Methamphetamin STT: 247 Danh mục IIC phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 và Nghị định 90/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024 của Chính phủ.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn T cũng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trong bản Cáo trạng.
Bản cáo trạng số 22/CT-VKSKV5 ngày 07/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên truy tố Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), phạt bị cáo từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như nội dung Cáo trạng và phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người chứng kiến có trong hồ sơ vụ án. Ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H lập hồi 11 giờ 00 phút ngày 02/8/2025 tại trụ sở Công an xã T, tỉnh Hưng Yên (Bút lục số 07, 08);
- Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H lập hồi 12 giờ 35 phút ngày 02/8/2025 tại trụ sở Công an xã T, tỉnh Hưng Yên (Bút lục số 11);
- Bản kết luận giám định số 723/KL-KTHS ngày 06/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh H về khối lượng ma túy thu giữ (Bút lục số 19);
Cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Do đó có đủ cơ sở kết luận: Hồi 10 giờ 30 phút ngày 02/8/2025, tại khu vực bến phà cũ thuộc địa phận thôn T, xã T, tỉnh Hưng Yên, Trần Văn T tàng trữ trái phép trên người 01 túi ma túy, loại Methamphetamin, có khối lượng 0,3025 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân đã bị tổ công tác Công an xã T, tỉnh Hưng Yên phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo Trần Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).
Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
- Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;
- Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
- Có tổ chức;
- Phạm tội 02 lần trở lên;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".
Việc Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên truy tố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025) là hoàn toàn có căn cứ.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Mặc dù động cơ phạm tội xuất phát từ việc nghiện chất ma túy, mục đích để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, nhưng tệ nạn ma túy là hiểm họa của toàn xã hội, không những gây tác hại cho sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại của ma túy song không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân mà vẫn thực hiện hành vi tàng trữ ma túy là thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc loại tội nghiêm trọng, vì vậy bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân: Năm 2013 bị cáo bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng, đây là một trong những tình tiết để Hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo nên được xét hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã phân tích trên thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định như mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, nhằm cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và đấu tranh, ngăn ngừa tội phạm về ma túy nói chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma tuý để sử dụng cho bản thân, không có mục đích bán kiếm lời. Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua ma tuý của một người đàn ông khoảng 50 tuổi không biết tên, địa chỉ, tại khu vực chân cầu T, thuộc địa phận tỉnh Ninh Bình nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,3025 gam (Không phẩy ba nghìn không trăm hai mươi lăm gam) ma túy, loại Methamphetamine, sau khi lấy mẫu giám định còn 0,2257 gam (không phẩy hai nghìn hai trăm năm mươi bảy gam) và bao gói quản lý của Trần Văn T trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 723/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh H, xét đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ;
[9] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025), xử phạt bị cáo Trần Văn T 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 02/8/2025.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định: 0,2257 gam (không phẩy hai nghìn hai trăm năm mươi bảy gam) và bao gói quản lý của Trần Văn T trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 723/KL-KTHS ngày 06/8/2025 của Phòng K - Công an tỉnh H
(Vật chứng đang được quản lý tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 5, tỉnh Hưng Yên. Chi tiết vật chứng được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 16 giờ 00 phút ngày 07/11/2025 giữa bên giao là Công an tỉnh H và bên nhận là Phòng thi hành án dân sự khu vực 5, tỉnh Hưng Yên).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Trần Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (01/12/2025)./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Phượng |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM | |
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị P |
Bản án số 103/2025/HS-ST ngày 01/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 103/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đã có HLPL
