Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 103/2025/HNGĐ-ST

Ngày 01/4/2025

V/v tranh chấp ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Anh.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Phan Thanh Minh
  2. Bà Nguyễn Thị Nở

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thư Thái Bình – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 54/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 248/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 2493/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Đào Xuân T, sinh năm 1964

Địa chỉ: A khu phố A, phường T, Quận A, Tp ..

Bị đơn: Bà Lê Thị A, sinh năm 1971;

Địa chỉ: F Holland ST Lakewood C, USA (Hoa Kỳ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 04 tháng 5 năm 2023 và lời khai của nguyên đơn – ông Đào Xuân T thì: Ông và bị đơn kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 01, quyển số 18/98 do Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08/9/1998. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2021 dịch bệnh covid bùng phát buôn bán ế ẩm nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Cuối năm 2022, bà A tự ý đi Hoa Kỳ làm ăn. Nhận thấy thời gian xa cách đã lâu, tình cảm không còn, không thể kéo dài cuộc hôn nhân này nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bị đơn.

Về con chung: Có 02 con chung là Đào Mai Q, sinh năm 1998 và Đào Xuân V, sinh năm 2003 đã thành niên.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận.

Về nợ chung: Không có.

Ông đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt Ông.

Tòa án đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ, nơi bị đơn – bà Lê Thị An cư T1 để tống đạt Thông báo về việc thụ lý, ngày mở phiên họp, phiên tòa và yêu cầu bà Lê Thị A trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông Đào Xuân T nhưng bà Lê Thị A không có văn bản trả lời và vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

  • Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn và bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định của pháp luật.
  • Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng: Ông Đào Xuân T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Lê Thị A đang cư trú tại Hoa Kỳ, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn – ông Đào Xuân T có đơn đề nghị Tòa án không hòa giải và xét xử vắng mặt; Tòa án đã lập hồ sơ ủy thác tư pháp tống đạt các văn bản tố tụng, yêu cầu cung cấp bản khai và thông báo ngày, giờ, địa điểm xét xử nhưng đến thời điểm xét xử Tòa án vẫn không nhận được phản hồi của bị đơn - bà Lê Thị A, nên căn cứ Khoản 1 Điều 228 và Khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Đào Xuân T và bà Lê Thị A.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:

Về hôn nhân: Căn cứ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 01, quyển số 18/98 do Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08/9/1998 thì giữa ông Đào Xuân T và bà Lê Thị A là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo trình bày của nguyên đơn ông Đào Xuân T thì hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn từ năm 2021 và hiện bị đơn đi làm ăn ở nước ngoài. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Đào Xuân T yêu cầu ly hôn bà Lê Thị A. Xét trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã không có văn bản nêu ý kiến và cũng không đến Tòa án để đưa ra giải pháp để vợ chồng đoàn tụ, cả hai hiện có khoảng cách địa lý nên tình cảm vợ chồng không tồn tại, đây là căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa hai người không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa.

Về con chung: Có 02 con chung là Đào Mai Q, sinh năm 1998 và Đào Xuân V, sinh năm 2003 đã thành niên.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

[3] Từ những nhận định trên, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đào Xuân T.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do ông Đào Xuân T khởi kiện yêu cầu ly hôn nên ông Đào Xuân T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 37; Điều 38; Khoản 4 Điều 147; Khoản 4 Điều 207; Khoản 1 Điều 273 và Khoản 1, Khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 19 và Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào Khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đào Xuân T.

Về hôn nhân: Ông Đào Xuân T được ly hôn bà Lê Thị A.

Về con chung: Có 02 con chung là Đào Mai Q, sinh năm 1998 và Đào Xuân V, sinh năm 2003 đã thành niên.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đào Xuân T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0031800 ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Đào Xuân T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn – Ông Đào Xuân T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày và bị đơn – bà Lê Thị A được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (một) tháng, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự (02);
  • - Uỷ ban nhân dân P. 10, Q.5, Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Lưu: HSVA, VT (HA).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hoàng Anh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Châu

Huỳnh Trường Sơn

Nguyễn Hoàng Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2025/HNGĐ-ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 103/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger