1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 103/2024/HS-ST
Ngày: 04-12-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Cao Hoài Hiêm;
- 2. Ông Lê Đình Nhung.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hữu Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lê Huỳnh Như Nguyện - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Văn phòng khu phố G, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 81/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Phan Thành N, sinh năm 1994, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi đăng ký HKTT: khu phố G, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú hiện nay: khu phố G, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan Văn Đ và bà Trương Thị L; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không có. Bị cáo bị tạm giữ ngày 12/6/2024, tạm giam ngày 21/6/2024, tại Nhà tạm giữ Công an thị xã T, tỉnh Tây Ninh cho đến nay. (có mặt)
2. Bùi Quốc H, sinh năm 2001, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi đăng ký HKTT: khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú hiện nay: khu phố G, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn D (đã chết) và bà Nguyễn Thị Út E; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không có. Bị cáo bị tạm giữ ngày 12/6/2024, tạm giam ngày 21/6/2024, tại Nhà tạm giữ Công an thị xã T, tỉnh Tây Ninh cho đến nay. (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 1. Chị Bùi Thị Kim C, sinh năm 1990. Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An. (vắng mặt)
- 2. Anh Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1989. Địa chỉ: khu phố L, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
Người làm chứng:
- 1. Ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1973. Địa chỉ: khu phố G, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
- 2. Ông Lưu Văn C1, sinh năm 1983; Địa chỉ: khu phố G, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 12/6/2024, tại nhà của Bùi Quốc H thuộc khu phố G, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, lực lượng Công an phường T bắt quả tang H đang cùng với Phan Thành N tổ chức cho Bùi Thị Kim C và Huỳnh Ngọc T sử dụng trái phép chất ma túy. Thu giữ 01 (một) bình thủy tinh có nắp màu đỏ, trên nắp có gắn một ống hút nhựa màu trắng và một ống thủy tinh dạng phễu, dưới ống thủy tinh có gắn một đoạn ống hút nhựa màu trắng, bên trong ống thủy tinh có chứa chất rắn màu nâu (nghi là chất ma túy, được niêm phong ký hiệu M1); 01 (một) bình thủy tinh, trên bình có gắn 01 đoạn kim loại, 01 đoạn ống nhựa màu trắng, trên đoạn ống nhựa màu trắng có gắn một ống hút nhựa màu trắng, một đầu quấn băng keo màu đen và 01 ống thủy tinh dạng phễu, bên trên ống thủy tinh có dán băng keo màu đen, bên trong ống thủy tinh chứa chất rắn màu nâu (nghi là chất ma túy, được niêm phong ký hiệu M2) và một số vật chứng khác có liên quan.
Qua điều tra, thể hiện: Phan Thành N và Bùi Quốc H là bạn bè và sống chung tại nhà của bà Nguyễn Thị Út E (mẹ ruột của H) thuộc khu phố G, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Vào lúc 18 giờ 00 phút ngày 12/6/2024, do có nhu cầu sử dụng chất ma túy nên Phan Thành N đến khu vực quán cà phê “Cây Điều” thuộc khu phố H, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh mua chất ma túy của người đàn ông tên “Nhiều” (không rõ địa chỉ) với số tiền 200.000 đồng. Sau đó, N mang chất ma túy về nhà của H, chia thành 02 phần: 01 phần để trong đoạn ống hút nhựa màu trắng hàn kín hai đầu, cất giấu trong người; 01 phần đổ vào trong ống thủy tinh dạng phễu của bộ D1 sử dụng chất ma túy và rủ Bùi Thị Kim C, sinh năm 1990 (bạn gái của N) cùng sử dụng tại phòng ngủ tầng trệt. Một lúc sau, Huỳnh Quốc T1, sinh năm 1989 đến gặp H ở tại phòng khách. Lúc này, H rủ T1 sử dụng chất ma túy thì T1 đồng ý, H đi vào phòng ngủ thấy N và C đang sử dụng chất ma túy nên hỏi có chất ma túy không cho H một ít sử dụng với T1 thì N đưa H đoạn ống hút nhựa màu trắng có chứa chất ma túy. H lấy bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy và đi đến trước cửa phòng vệ sinh, đổ chất ma túy vào ống thủy tinh dạng phễu rồi dùng bật lửa đun nóng sử dụng trước, sau đó, T1 đến dùng bật lửa đun nóng chất ma túy sử dụng sau. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi N, H, T1 và C đang sử dụng trái phép chất ma túy thì bị bắt quả tang.
Tại Kết luận giám định số 1185/KL-KTHS ngày 16/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
- - Mẫu chất rắn, màu nâu (ký hiệu M1) bên trong 01 (một) ống thủy tinh dạng phễu, phía dưới ống thủy tinh có gắn 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng 0,0414 gam.
- - Mẫu chất rắn, màu nâu (ký hiệu M2) bên trong 01 (một) ống thủy tinh dạng phểu, trên ống thủy tinh có dán băng keo màu đen gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,0780 gam.
Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 12/6/2024 tại Công an phường T của Phan Thành N, Bùi Quốc H, Bùi Thị Kim C và Huỳnh Ngọc T thể hiện: Dương tính với chất ma túy.
Tại bản Cáo trạng số: 82/CT-VKSTrB ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Phan Thành N và Bùi Quốc H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh nêu trên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 255; điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo N từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
- - Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 255; điểm s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo H từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- - Xét thấy các bị cáo không có tài sản riêng nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Đồng thời căn cứ các Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Về bào chữa: bị cáo N và H thống nhất với Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến gì bào chữa cho mình.
Về nói lời nói sau cùng: bị cáo N và H xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai của họ đã có đầy đủ trong hồ sơ vụ án, việc xét xử vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên bị cáo và đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử vắng mặt họ. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh: trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà, bị cáo N và H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã chứng minh được như sau: Vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 12/6/2024, tại khu phố G, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, Bùi Quốc H có hành vi sử dụng địa điểm và cùng với Phan Thành N cung cấp 0,1194 gam chất ma túy, loại Methamphetamine để tổ chức cho Bùi Thị Kim C và Huỳnh Ngọc T sử dụng trái phép thì bị bắt quả tang.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phan Thành N và Bùi Quốc H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng và nhân thân của bị cáo:
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, xét thấy các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Riêng bị cáo N là bộ đội xuất ngũ và có cha là người có công với cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự sẽ được Hội đồng xét xử xem xét khi áp dụng hình phạt đối với từng bị cáo.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về tính chất của hành vi phạm tội và hình phạt:
Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo N và H là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện.
Trong vụ này, bị cáo N có vai trò chính, là người đi mua ma túy về cùng với H tổ chức cho người khác sử dụng. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của từng bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét thấy các bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: căn cứ các Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử lý như sau:
- - Một gói niêm phong ghi vụ số: 1185/M1, có chữ ký niêm phong của Giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý Lê Quốc T2 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T; Một gói niêm phong ghi vụ số: A, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý Lê Quốc T2 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T; 01 (một) cây dao rọc giấy bằng kim loại dài 16cm, rộng 01cm, đã qua sử dụng; 01 (một) bật lửa dài 08cm, rộng 02cm, có thân bằng nhựa màu đỏ, phần đầu bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 (một) bật lửa bằng nhựa, màu đỏ - đen được gắn liền với ống kim loại dài 4,5cm, trên nút bấm được buộc lại bằng dây rút nhựa màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) bình thủy tinh, trên bình có gắn một đoạn kim loại và một đoạn ống màu trắng, trên đoạn ống nhựa màu trắng có gắn 01 (một) ống hút nhựa màu trắng một đầu quấn băng keo màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) bình thủy tinh có nắp màu đỏ, trên nắp có gắn 01 (một) ống hút nhựa màu trắng, đã qua sử dụng. Đây là các vật chứng liên quan đến việc phạm tội không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5S, màu đen, số Imei 1: 868683046603779, số Imei 2: 868683046603761, đã qua sử dụng. Đây là tài sản cá nhân của bị cáo H không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo H.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A05, màu đen, số Imei 1: 357492755749551, số Imei 2: 359547405749554, đã qua sử dụng. Đây là tài sản cá nhân của bị cáo N không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo N.
[6] Về án phí: bị cáo N và H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phan Thành N, Bùi Quốc H, Bùi Thị Kim C và Huỳnh Ngọc T đã bị Công an thị xã T xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với người tên “Nhiều” mà Phan Thành N khai đã bán trái phép chất ma túy cho N; hiện không rõ họ tên, địa chỉ và chưa làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T đang tiếp tục làm rõ, xử lý sau.
Đối với bà Nguyễn Thị Út E hiện không sinh sống cùng với H và không biết H sử dụng nhà của bà E để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không đề cập xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phan Thành N 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 12/6/2024.
2. Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Quốc H 07 (B) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 12/6/2024.
3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: căn cứ các Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) gói niêm phong ghi vụ số: 1185/M1, có chữ ký niêm phong của Giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý Lê Quốc T2 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T; 01 (Một) gói niêm phong ghi vụ số: A, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý Lê Quốc T2 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T; 01 (một) cây dao rọc giấy bằng kim loại dài 16cm, rộng 01cm, đã qua sử dụng; 01 (một) bật lửa dài 08cm, rộng 02cm, có thân bằng nhựa màu đỏ, phần đầu bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 (một) bật lửa bằng nhựa, màu đỏ - đen được gắn liền với ống kim loại dài 4,5cm, trên nút bấm được buộc lại bằng dây rút nhựa màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) bình thủy tinh, trên bình có gắn một đoạn kim loại và một đoạn ống màu trắng, trên đoạn ống nhựa màu trắng có gắn 01 (một) ống hút nhựa màu trắng một đầu quấn băng keo màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) bình thủy tinh có nắp màu đỏ, trên nắp có gắn 01 (một) ống hút nhựa màu trắng, đã qua sử dụng.
- Trả lại cho Bùi Quốc H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5S, màu đen, số Imei 1: 868683046603779, số Imei 2: 868683046603761, đã qua sử dụng.
- Trả lại cho Phan Thành N 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A05, màu đen, số Imei 1: 357492755749551, số Imei 2: 359547405749554, đã qua sử dụng.
4. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo N và bị cáo H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc H1 |
Bản án số 103/2024/HS-ST ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 103/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thành Nghiệp cùng Bùi Quốc Huy tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
