|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 103/2024/HS-ST Ngày: 06/12/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hồng và bà Vương Thị Hồng
- - Thư ký phiên toà: Ông Trần Ngọc Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc tham gia phiên tòa: Bà Doãn Thị Ánh Tuyết - kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2024/QĐXXST - HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Hữu H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày: 15/5/1988 tại huyện N, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm Đ, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lái xe. Họ và tên cha: Phan Hữu T, đã chết. Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị X, sinh năm 1955. Anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ ba. Họ và tên vợ: Trần Thị T1, sinh năm 1992, đã ly hôn. Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2019. Tiền sự, Tiền án: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú" và "Quyết định tạm hoãn xuất cảnh" từ ngày 17/6/2024 cho đến nay tại xóm Đ, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Trọng H1, bà Lê Thị P – Luật sư thuộc Công ty L và cộng sự - Đoàn luật sư tỉnh N. Địa chỉ: số F, đường L, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt – có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Bị hại: 1. Chị Nguyễn Thị Hạ T2, sinh năm 2005. Địa chỉ: xóm M, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của chị T2: Ông Nguyễn Xuân H2, sinh năm 1979 và bà Phạm Thị H3, sinh năm 1982. Địa chỉ: xóm M, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt – có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông H2, bà H3: Bà Trần Thị T3 và bà Phạm Thị V – Luật sư thuộc Công ty L1 – Đoàn luật sư tỉnh N. Địa chỉ: số A, đường H, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt – có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
2. Chị Phạm Thị Ngọc Á, sinh năm 2001. Địa chỉ: xóm M, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Người đại diện theo ủy quyền của chị Á: Ông Phạm Tuấn Đ, sinh năm 1978. Địa chỉ: xóm M, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt – có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- - Công ty C – Chi nhánh H5. Địa chỉ: Tầng B, T, lô H, đường P, phường M, quận N, Thành phố Hà Nội.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông HSUEH, MING-CHI – Chức vụ: Tổng giám đốc. (Vắng mặt)
- - Công ty cổ phần T6. Địa chỉ: số D, tổ E, thị trấn S, huyện S, Thành phố Hà Nội. Địa chỉ mới: số nhà A, Tổ 2, Miếu T, T, thị trấn S, huyện S, Thành phố Hà Nội.
- Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Ngọc Quỳnh T4 – Chức vụ: Tổng Giám đốc. (Vắng mặt)
Người làm chứng: Anh Đoàn Ngọc Đ1, sinh năm 1994. Địa chỉ: thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 02/01/2024, Công ty Cổ phần T6 (Công ty T6) do anh Nguyễn Văn T5 (sinh năm 1988, trú tại thôn X, xã Q, huyện S, thành phố Hà Nội) làm Giám đốc và là người đại diện theo pháp luật của Công ty T6 đã ký Hợp đồng lao động số 102-24.HĐ/KYD với Phan Hữu H nhận vào làm nhân viên lái xe, thời hạn từ ngày 02/01/2024 đến 03/01/2025. Quá trình vận chuyển hàng hóa, có thỏa thuận là khi xe chở hàng đường dài, Công ty T6 sẽ trả lương cho 02 lái xe và trả trực tiếp cho Phan Hữu H và H có quyền gọi thêm lái xe khác đi cùng và chịu trách nhiệm trả lương cho người đi cùng.
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 09/3/2024, Phan Hữu H (có giấy phép lái xe hạng C, số [...] có giá trị đến ngày 01/8/2024) điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu CHENGLONG, màu sơn bạc, biển kiểm soát 29LD-316.36 đi trên đường T theo hướng từ thành phố V đi thị xã C. Khi đi qua khu vực ngã tư có báo hiệu bằng đèn tín hiệu giao thông giao nhau giữa đường T với đường đi vào UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (đoạn Km 05+00 thuộc địa phận xóm D, xã N). Do không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước nên đã để mặt ngoài thành lốp trước bên phải của xe ô tô 29LD-316.36 va chạm vào đầu ngoài, phía trên giá để chân sau bên trái của xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu sơn đỏ nâu đen, biển kiểm soát 37B2-941.67 do chị Phạm Thị Ngọc Á điều khiển, chở chị Nguyễn Thị Hạ T2 đang lưu thông phía trước cùng chiều, cùng trên làn đường di chuyển của xe ô tô tải 29LD-316.36 gây tai nạn giao thông. Hậu quả: chị Nguyễn Thị Hạ T2 bị tử vong tại chỗ, chị Phạm Thị Ngọc Á bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%, xe mô tô 37B2-941.67 bị hư hỏng nhẹ.
Kết quả khám nghiệm phương tiện:
Đối với xe ô tô BKS 29LD-316.36: Mặt ngoài phần phía trước chắn bùn bánh trước bên phải phát hiện 03 (ba) dấu vết: Vết (1): Dấu vết trượt xước kích thước (3,5 x 0,3)cm, chiều hướng từ sau ra trước, tâm vết cao cách đất 86cm, cách mặt trước đầu xe 87cm; Vết (2): Dấu vết trượt xước về mặt bám dính chất màu đen, kích thước (5 x 2,5)cm, tâm vết cao cách đất 110cm và nằm đối diện phía trên dấu vết (1); Vết (3): Dấu vết trượt mất bụi in hình các đường song song, kích thước (14 x 5,5)cm, điểm cao nhất dấu vết cách đất 120cm, chiều hướng từ trước ra sau, chếch từ trên xuống dưới; Tại thành ngoài lốp trước bên phải, vị trí đối diện lỗ chân van qua tâm trục có vùng dấu vết trượt sáng cao su, sạch bụi đất không liên tục trên diện có kích thước (40 x 10)cm, chiều hướng ngược chiều quay tiến của bánh xe; Mặt ngoài vành la zăng, vị trí cách lỗ chân van 55cm cùng chiều quay tiến của bánh xe có vùng dấu vết trượt xước (9 x 4)cm; Tại thành ngoài lốp trước bên phải, vị trí cách lỗ chân van 65cm ngược chiều quay tiến của bánh xe, có vùng dấu vết trượt mất bụi đất, sáng cao su, kích thước (30 x 4)cm, chiều hướng ngược chiều quay tiến của bánh xe; Góc phía dưới bên phải thùng xe kéo dài về phía sau 40cm, có cùng dấu vết trượt mất bụi không liên tục, bề mặt in hình các đường song song kích thước (42 x 18)cm, điểm cao nhất cao cách đất 117cm, chiều hướng từ trước ra sau; Mặt ngoài giàn bảo hiểm phía bên dưới bên phải thùng xe có vùng dấu vết trượt mất bụi, không liên tục in hình cách đường song song trên diện có kích thước (412 x 48)cm, chiều hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới; T5 ngoài lốp ngoài dãy bánh lốp phía sau bên phải, vị trí đối diện lỗ chân van qua tâm trục có vùng dấu vết trượt mất bụi sáng cao su, bề mặt in hình các đường song song trên diện kích thước (70 x 14)cm; Mặt trong phần phía ngoài cung trước chắn bùn hai bánh sau bên phải có vùng dấu vết bám dính chất màu trắng đục (dạng tổ chức cơ thể người) trên diện kích thước (30 x 5)cm; Mặt trong phần phía ngoài cung sau chắn bùn hai bánh sau bên phải có vùng dấu vết bám dính chất màu trắng đục (dạng tổ chức cơ thể người) trên diện kích thước (65 x 5)cm; Góc dưới trước dàn bảo hiểm bên trái có vết trượt xước, mất rỉ sắt, kích thước (1,5 x 3)cm, cao cách mặt đất 42,7cm, chiều hướng từ trước ra sau; Tiến hành thu mẫu chất màu trắng đục ở chắn bùn phía sau, xác định dấu vết bằng thuốc thử Phenolphtalein, kết quả là máu; xác định dấu vết máu người bằng kit Hbcard do Viện Khoa học và Công nghệ Bộ C1 sản xuất, kết quả là máu người. Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống phanh, đèn, còi hoạt động bình thường và có hiệu lực.
Đối với xe mô tô BKS 37B2-941.67: Các bộ phận bám dính đất, bùn màu vàng gồm: chắn bùn bánh trước, cánh yếm bên trái, ốp nhựa bên trái đầu xe, gương chiếu hậu bên trái, cụm tay lái phía bên trái, ốp nhựa sườn xe bên trái, bản để chân trước và sau bên trái; Mặt ngoài cung chắn bùn phía trước bánh trước có vùng dấu vết trượt xước nhựa, kích thước (22 x 10)cm, bề mặt bám dính bùn đất bẩn; Mặt ngoài cánh yếm bên trái có vùng dấu vết trượt xước nhựa kích thước (35 x 20)cm, bề mặt bám dính bùn đất bẩn; Mặt ngoài ốp nhựa gáo gương chiếu hậu bên trái có vùng dấu vết trượt xước nhựa kích thước (8 x 4)cm, bề mặt bám dính bùn đất bẩn; Đầu ngoài bên trái tay lái có vùng dấu vết trượt xước kim loại, kích thước (01 x 0,5)cm, bề mặt bám dính bùn đất bẩn; Ốp nhựa phía dưới giàn để chân trước bên trái có vùng dấu vết trượt xước kích thước (20 x 8)cm, bề mặt bám dính bùn đất bẩn; Mặt ngoài ốp nhựa sườn xe bên trái có vùng dấu vết trượt xước không liên tục kích thước (50 x 10)cm; Mặt ngoài bên trái giá nâng xe có vùng dấu vết trượt xước kích thước (10 x 3)cm, bề mặt bám dính bùn đất; Mặt ngoài (sau) tấm nhựa bảo vệ tấm biển số và mặt ngoài đuôi chắn bùn sau có vùng dấu vết bám dính chất màu nâu đỏ (dạng máu) và bùn đất bẩn trên diện (40 x 20)cm; Mặt ngoài sau ốp kim loại bảo vệ lọc gió (bên trái xe) có vùng dấu vết trượt xước, móp lõm kim loại kích thước (4 x 0,2)cm, chiều hướng từ sau ra trước, vị trí cao nhất dấu vết cao cách đất 40cm; Đầu ngoài, trên giá để chân sau bên trái có vùng dấu vết trượt xước, sáng cao su, kim loại kích thước (2 x 1,5)cm, hướng trên xuống dưới, từ sau ra trước, vị trí cao nhất cách mặt đất 35cm, dấu vết này làm mất cao su màu đen; Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống phanh, đèn, còi hoạt động bình thường và có hiệu lực.
- - Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 19/KLGĐTT-TTPY ngày 27/3/2024 của Trung tâm P1, Sở Y tế tỉnh N kết luận: Nạn nhân Nguyễn Thị Hạ T2, sinh năm 2005, trú tại xóm M, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An tử vong do suy tuần hoàn, suy hô hấp. Đa chấn thương, chấn thương sọ não, chấn thương ngực.
- - Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 331/KLTTCT-TTPY ngày 04/7/2024 của Trung tâm P1 - Sở y tế tỉnh N, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Phạm Thị Ngọc Á tại thời điểm giám định là: 01%.
- - Tại Bản kết luận giám định số 97/KL-KTHS(DVCH) ngày 01/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: Tại thời điểm xảy ra tai nạn, xe ô tô biển số 29LD-316.36 và xe mô tô biển số 37B2-941.67 di chuyển cùng chiều với nhau trên đường T theo hướng từ thành phố V đi thị xã C; Xe ô tô biển số 29LD-316.36 có va chạm với xe mô tô biển số 37B2-941.67. Vị trí va chạm đầu tiên: Trên hiện trường là ở phần đường phía Nam đường Tỉnh lộ 535B (Phần đường phía bên phải theo hướng di chuyển từ thành phố V đi thị xã C); Trên phương tiện: Trên xe ô tô biển số 29LD-316.36 là ở mặt ngoài thành lốp trước bên phải xe. Dấu vết va chạm ở vị trí này có chiều hướng ngược chiều quay tiến của bánh xe; Trên xe mô tô biển số 37B2-941.67 là ở đầu ngoài, phía trên giá để chân phía sau bên trái xe. Dấu vết va chạm ở vị trí này có chiều hướng từ sau ra trước từ trên xuống dưới; Tư thế va chạm: Khi va chạm với nhau thì mặt lăn bánh lốp của xe ô tô biển số 29LD-316.36 và xe mô tô biển số 37B2-941.67 đang tiếp xúc với mặt đường (Xe mô tô biển số 37B2-941.67 chưa ngã đổ trên đường); Không xác định được tốc độ của xe ô tô biển số 29LD-316.36 và xe mô tô biển số 37B2-941.67 tại thời điểm xảy ra tai nạn.
- Hệ thống dấu vết trên xe ô tô biển số 29LD-316.36 gồm: Dấu vết trượt mất bụi không liên tục, bề mặt in hình các đường song song ở góc dưới phía trước bên phải thùng xe; Dấu vết trượt mất bụi không liên tục, bề mặt in hình các đường song song ở mặt ngoài giàn bảo hiểm phía dưới bên phải thùng xe; Dấu vết trượt mất bụi, sáng cao su bề mặt in hình các đường song song ở thành ngoài, lốp ngoài dãy bánh lốp phía sau bên phải xe; Các dấu vết trên có đặc điểm giống với đặc điểm dấu vết được hình thành do va chạm với quần áo và cơ thể người (Bút lục: 114, 115).
- - Tại Công văn số 149/CV-KTHS ngày 14/5/2024 Phòng K Công an tỉnh N xác định: Căn cứ vào vị trí và chiều hướng dấu vết va chạm đầu tiên trên xe ô tô biển số 29LD-316.36 với xe mô tô biển số 37B2-941.67, cụ thể: Trên xe ô tô biển số 29LD-316.36: Ở mặt ngoài thành lốp trước bên phải xe. Dấu vết va chạm ở vị trí này có chiều hướng ngược chiều quay tiến của bánh xe; Trên xe mô tô biển số 37B2-941.67: Ở đầu ngoài, phía trên giá để chân phía sau bên trái xe. Dấu vết va chạm ở vị trí này có chiều hướng từ sau ra trước, từ trên xuống dưới.
- Các dấu vết này hình thành do xe ô tô biển số 29LD-316.36 di chuyển theo hướng chủ đạo (hướng chính) là từ phía sau ra phía trước xe mô tô biển số 37B2-941.67 (tại thời điểm này, tốc độ của xe ô tô mang biển số 29LD-316.36 lớn hơn tốc độ của xe mô tô mang biển số 37B2-941.67).
- Không đủ cơ sở xác định việc tạo ra dấu vết trên hai phương tiện là do xe ô tô mang biển số 29LD-316.36 di chuyển sang bên phải và va chạm với xe mô tô mang biển số 37B2-941.67 hay do xe mô tô mang biển số 37B2- 941.67 di chuyển sang bên trái và va chạm với xe ô tô mang biển số 29LD-316.36.
- - Căn cứ kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu lúc 08 giờ 08 phút ngày 10/3/2024 và kết quả xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu lúc 07 giờ 43 phút ngày 10/3/2024 của Bệnh viện Đa khoa huyện N đối với Phan Hữu H, xác định: Mẫu nước tiểu của Phan Hữu H âm tính với chất ma túy; Định lượng E (nồng độ cồn) trong máu của Phan Hữu H là 49mg/dL (trị số bình thường là 50 mg/dL).
- Tại Báo cáo cung cấp thông tin về kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu số 485/BC-BVĐKNL ngày 17/6/2024 của Bệnh viện Đa khoa huyện N xác định: Trường hợp người xét nghiệm có định lượng Ethanol trên hoặc dưới trị số bình thường có thể là cơ sở xác định người được xét nghiệm có hoặc không có sử dụng rượu, bia, sản phẩm có chứa cồn.
- - Tại Bản kết luận định giá tài sản số 35/KL.ĐG ngày 01/9/2024, của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện N kết luận: 01 (một) xe mô tô BKS 37B2-941.67, nhãn hiệu HONDA, số loại VISION, năm sản xuất 2019 bị hư hỏng do tai nạn giao thông có giá trị thiệt hại là 400.000 đồng.
Phương tiện và giấy tờ liên quan trong vụ án:
- - 01 (một) xe ô tô tải nhãn hiệu CHENGLONG, màu sơn bạc, biển kiểm soát 29LD-316.36 thuộc sở hữu của Công ty C - Chi nhánh H5 (Địa chỉ: Tầng B, T, lô H, đường P, phường M, quận N, TP .) cho Công ty Cổ phần T6 (Địa chỉ: Số nhà D, tổ E, thị trấn S, huyện S, TP . Hà Nội) thuê trong thời hạn 60 tháng kể từ ngày 17/01/2022 (Hợp đồng thuê tài chính số B211014711, ký ngày 09/12/2021). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại xe cho Công ty Cổ phần T6.
- - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu sơn đỏ nâu đen, biển kiểm soát 37B2-941.67; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký, 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của xe mô tô biển kiểm soát 37B2-941.67 thuộc sở hữu của anh Phạm Tuấn Đ (sinh năm 1978, trú tại xóm M, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An - là bố đẻ của chị Phạm Thị Ngọc Á). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại xe cho anh Phạm Tuấn Đ.
- - 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1, số D, mang tên Phạm Thị Ngọc Á thuộc sở hữu của chị Á. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho chị Á.
- - 01 (một) Giấy xác nhận lưu giữ Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô 29LD-316.36 của Công ty C Chi nhánh H5; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT đối với xe ô tô mang BKS 29LD-316.36; 01 (một) Thẻ nhớ nhãn hiệu Lexar, dung lượng 32G thu giữ trên camera hành trình gắn trên xe ô tô mang BKS 29LD-316.36; 01 (một) Giấy phép lái xe hạng C, số D, mang tên Phan Hữu H có thời hạn đến 01/8/2024 - đều được chuyển theo hồ sơ vụ án
Tại bản cáo trạng số 83/CT-VKS-NL ngày 25/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc đã truy tố Phan Hữu H về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt Phan Hữu H từ 15-18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 đến 36 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phan Hữu H đã bồi thườngcho gia đình chị Nguyễn Thị Hạ T2 số tiền 370.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của người bị hại và người bị hại (chị Phạm Thị Ngọc Á) không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Về tài liệu thu giữ: 01 (một) Giấy phép lái xe hạng C, số D, mang tên Phan Hữu H có thời hạn đến 01/8/2024 - của Phan Hữu H đề nghị trả lại cho bị cáo Phan Hữu H.
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Hữu H giữ nguyên lời khai; không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát; chỉ đề nghị giảm nhẹ hình phạt.
Người bào chữa cho bị cáo Phan Hữu H gửi bài bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo Phan Hữu H được hưởng án treo.
Đại diện hợp pháp của bị hại gửi đơn đề nghị xét xử vắng mặt và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Phan Hữu H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.
[2]. Về việc vắng mặt của người đại diện hợp pháp của bị hại; người bị hại; người bào chữa cho bị cáo; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: người đại diện hợp pháp của bị hại; người bị hại; người bào chữa cho bị cáo; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử; tuy nhiên họ đều có đơn đề nghị vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng được tống đạt hợp lệ, tuy nhiên vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự vẫn tiến hành xét xử.
[3]. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Hữu H thừa nhận hành vi gây tai nạn giao thông cho ông chị Nguyễn Thị Hạ T2, chị Phạm Thị Ngọc Á như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ (điều khiển xe ô tô BKS 29LD -316.36) không chú ý quan sát, không tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và không giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình dẫn đến gây tai nạn giao thông với xe mô tô 37B2-941.67 do chị Ngọc Á điều khiển chở sau là chị Hạ T2 (đã vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ) gây hậu quả: chị Hạ T2 tử vong tại chỗ, chị Ngọc Á bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01% (Một phần trăm) đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[4]. Về tính chất vụ án; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn giao thông và tính mạng, sức khỏe của người dân; ảnh hưởng đến trật tự an ninh xã hội. Vì vậy, cần lên một mức án nghiêm để có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng: không
Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đã bồi thường toàn bộ cho gia đình bị hại – chị Nguyễn Thị H4 Thương số tiền 370.000.000 đồng; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú; bố của bị cáo là thương binh, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét bị cáo phạm tội lần đầu, có nơi cư trú ổn định, có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khoản nên cho bị cáo được hưởng án treo đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đủ nghiêm.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phan Hữu H đã bồi thường cho gia đình chị Hạ T2 số tiền 370.000.000 đồng; gia đình chị Ngọc Á không yêu cầu bồi thường. Nay không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[6].Về tài liệu thu giữ: 01 (một) Giấy xác nhận lưu giữ Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô 29LD-316.36 của Công ty C Chi nhánh H5; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT đối với xe ô tô mang BKS 29LD-316.36; 01 (một) Thẻ nhớ nhãn hiệu Lexar, dung lượng 32G thu giữ trên camera hành trình gắn trên xe ô tô mang BKS 29LD-316.36 cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án. Đối với 01 (một) Giấy phép lái xe hạng C, số D, mang tên Phan Hữu H có thời hạn đến 01/8/2024 - cần trả lại cho bị cáo Phan Hữu H. Khi bản án này có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền liên hệ với Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc để được nhận lại các tài liệu này.
[7]. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Tuyên bố bị cáo Phan Hữu H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ“.
Xử phạt bị cáo Phan Hữu H 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phan Hữu H cho UBND xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm dân sự: không
3. Về án phí:Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoa |
Bản án số 103/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN về hình sự (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Số bản án: 103/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Hữu Hưng bị truy tố về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
