Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VŨ THƯ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2024/HS-ST

Ngày 04 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ - TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Nhiễu
  2. Bà Phạm Thị Láng

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tho - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Bảo Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 04/12/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 93/2024/TLST-HS ngày 05/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2024/QĐXXST-HS ngày 20/11/2024 đối với bị cáo:

Trần Anh Đ, sinh ngày 07/8/1983 tại tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Thôn C, xã V, Thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; CCCD số [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Trần Đức H, đã chết và bà Hoàng Thị T; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án:

  • Bản án số 34/2019/HSST ngày 05/6/2019 của Toà án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt Trần Anh Đ 01 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bị cáo chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 18/7/2019, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/01/2020;
  • Bản án số 154/2021/HS-ST ngày 10/11/2021 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt Trần Anh Đ 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bị cáo chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 23/12/2021, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/01/2023.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/8/2024, đến ngày 19/8/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. (Có mặt)

- Người làm chứng:

  1. Ông Đỗ Duy H, sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)
  2. Anh Đỗ Hoài N, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. (Có mặt)

- Người chứng kiến:

  1. Anh Nguyễn Nghĩa C, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn M, xã M, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)
  2. Anh Vũ Quang C, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Tổ M, thị trấn V, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 10 phút ngày 13/8/2024, tại khu vực cổng công ty giày da Victory thuộc thôn M, xã M, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, Trần Anh Đ bị tổ công tác Công an huyện Vũ Thư kiểm tra người, phát hiện và thu giữ tại túi quần dài bên phải phía trước Đ mặc 01 gói được gói bằng giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. Đ khai nhận đó là ma túy, loại Heroine, Đ vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Kiểm tra xe mô tô biển số 17B6-682.43 do Đ điều khiển không phát hiện, thu giữ gì. Tổ công tác đã yêu cầu Đ đưa xe mô tô và mời người chứng kiến về trụ sở Công an thị trấn Vũ Thư, huyện Vũ Thư lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu và tiến hàng trưng cầu giám định vật chứng theo quy định pháp luật.

Bản kết luận giám định số 1253/KL-KTHS ngày 17/8/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,1409 gam.Heroine. STT: 09 Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Về nguồn gốc số ma tuý bị quản lý, Đ khai mua của một người phụ nữ không quen biết với giá 200.000 đồng tại khu vực chợ Quang Trung, thuộc phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Đ cất giấu gói ma tuý mua được vào túi quần dài bên phải phía trước đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về huyện Vũ Thư để tìm nơi sử dụng, khi chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang.

Cáo trạng số 97/CT-VKSVT ngày 05/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Trần Anh Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Anh Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Anh Đ từ 05 năm tù đến 05 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/8/2024. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma tuý quản lý của bị cáo được hoàn trả sau giám định niêm phong trong phong bì số 1253/KL-KTHS ngày 17/8/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Bình. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đã truy tố, không có ý kiến tranh luận và nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác Cơ quan điều tra thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 10 phút ngày 13/8/2024, tại khu vực cổng công ty giày da Victory thuộc thôn Minh Quàn, xã Minh Quang, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, Trần Anh Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép trên người 01 gói ma tuý, loại Heroine, có khối lượng 0,1409 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý. Vì vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

...

o) Tái phạm nguy hiểm.

...

[3] Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Trần Anh Đ là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, ngoài ra còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Ma túy gây ra những tác hại khôn lường cho sức khoẻ, trí tuệ người sử dụng, là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh các loại tội phạm, tệ nạn xã hội và lây nhiễm HIV/AIDS, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế, xã hội. Bị cáo biết rõ tác hại của ma tuý, biết rõ việc Nhà nước nghiêm cấm việc mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma tuý, nhưng do nghiện ma tuý nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy phải xử phạt bị cáo nghiêm khắc để cải tạo bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong xã hội.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo Trần Anh Đ có nhân thân xấu. Bị cáo có 02 tiền án tại Bản án số 34/2019/HSST ngày 05/6/2019 của Toà án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên và Bản án số 154/2021/HS-ST ngày 10/11/2021 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Tại bản án số 154/2021/HS-ST ngày 10/11/2021 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã xác định bị cáo tái phạm. Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa được xóa án tích, lại phạm tội do cố ý. Vì vậy, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Bị cáo không có tiền sự.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự do trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo.

[5] Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo Trần Anh Đ có nhân thân xấu, có 02 tiền án về tội phạm cùng tính chất, đã nhiều lần bị pháp luật xử lý nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện bản thân. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải cải tạo cách ly đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên toà mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, bị cáo Trần Anh Đ có nhân thân xấu, cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo để tăng cường tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

Số ma túy quản lý của bị cáo hoàn lại sau giám định, thuộc loại Nhà nước độc quyền quản lý và cấm tàng trữ, cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ.

Chiếc xe mô tô dán nhãn Wave Alpha, sơn xe màu trắng đen, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 17B6-682.43 do Đ điều khiển là tài sản hợp pháp của ông Đỗ Duy H, là anh rể của bị cáo Trần Anh Đ. Ngày 12/8/2024, anh Đỗ Hoài N (con trai ông Huề) cho Đ mượn xe để đi làm. Ông Huề, anh Nam không biết việc Đ sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho ông Huề là đúng theo quy định tại Điều106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Ông H, anh N và bị cáo đều không có ý kiến gì nên HĐXX không đặt ra giải quyết.

[8] Về người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo khai không quen biết, không xác định được họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.

[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm o khoản 2, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Anh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Anh Đ 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/8/2024. Phạt bổ sung bị cáo Trần Anh Đ 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
  3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,1144 (không phẩy một nghìn một trăm bốn mươi bốn) gam ma túy, loại Heroine quản lý của Trần Anh Đ hoàn trả sau giám định, niêm phong trong phong bì số 1253/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình. (Vật chứng của vụ án đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Thư theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản và phiếu nhập kho đề ngày 07/11/2024).
  4. Về án phí: Bị cáo Trần Anh Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Anh Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04/12/2024).

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Cơ sở giam giữ;
  • - Cơ quan CSĐT, cơ quan THAHS Công an huyện Vũ Thư;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Thư;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Thái Bình (gửi qua Công an huyện Vũ Thư)
  • - Lưu Hồ sơ vụ án; Lưu HCTP./.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2024/HS-ST ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 103/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Anh Đ phạm tội TTTPCMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger