Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 103/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 29-11-2024.

(V/v: Ly hôn, nuôi con chung)

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà: Lê Thị Kiều Thu.
  2. Ông: Nguyễn Văn Đô.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Huỳnh Thanh Trúc - Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết: Bà Huỳnh Nhã Uyên – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 300/2024/TLST- HNGĐ ngày 02/10/2024 “V/v: Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 742/2024/QÐST – HNGĐ ngày 12/11/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm 2000.

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái.

- Bị đơn: Bà Phạm Thị Ngọc T, sinh năm 1994.

Nơi ĐKHKTT: khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Nơi cư trú: khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện ngày 23 tháng 8 năm 2024, bản tự khai ngày 07/10/2024 nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc S trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Phạm Thị Ngọc T tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau năm 2020, có đăng ký kết hôn tại UBND phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận vào năm 2023. Quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc, do phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng về mọi vấn đề trong cuộc sống. Lúc ban đầu mới cưới, vợ chồng sống chung với nhau ở M, nhưng điều kiện sống rất khó khăn, công việc không ổn định nên sẵn dịp về quê chơi ông khuyên vợ dọn về quê nhà ông sống vì ở quê ông có công việc ổn định, gia đình ông cũng có kinh tế khá giả hơn. Tuy nhiên, bà T không đồng ý và ôm con bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống. Ông đã nhiều lần năn nỉ bà T để vợ chồng có thể chung sống hạnh phúc nhưng bà T vẫn không chịu sống chung với ông và cương quyết sống ly thân với ông gần một năm nay, thậm chí không cho ông và gia đình thăm gặp con. Hiện nay, ông được biết bà T đã có quan hệ tình cảm với người khác nên vợ chồng không thể nào chung sống được với nhau nữa. Vì mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu Toà án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Phạm Thị Ngọc T.

- Về con chung: Nguyễn Bảo H, sinh ngày 06/6/2021. Nay ly hôn ông yêu cầu nuôi con, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: ông S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 18/11/2024, Ông Nguyễn Ngọc S có đơn xin xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến tại đơn khởi kiện và bản tự khai.

*/Bị đơn bà Phạm Thị Ngọc T có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận và hiện nay cư trú tại khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Ngày 11/11/2024, bà Phạm Thị Ngọc T có đơn trình bày xin xét xử vắng mặt và thể hiện ý kiến như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: đồng ý ly hôn với yêu cầu của ông Nguyễn Ngọc S vì vợ chồng chung sống không hạnh phúc do tính tình không hợp và bất đồng quan điểm sống.

- Về con chung: có 1 con Nguyễn Bảo H, sinh ngày 06/6/2021, bà T đồng ý giao con cho ông S nuôi con dưỡng, bà T không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 21/11/2024, bà Phạm Thị Ngọc T có đơn xin xử vắng mặt.

Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký, của những người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng trình tự, thủ tục do Bộ Luật tố tụng dân sự quy định và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về con chung: giao con Nguyễn Bảo H, sinh ngày 06/6/2021 cho ông S nuôi dưỡng, ông S không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung ông S không yêu cầu giải quyết nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Tại phiên tòa do bị đơn vắng mặt nên nguyên đơn không tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng: thẩm quyền giải quyết vụ án, phía bị đơn bà Phạm Thị Ngọc T có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận và nơi cư trú tại khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ theo qui định tại khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc S về việc “Ly hôn, nuôi con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

Tại phiên tòa hôm nay ông Nguyễn Ngọc S, bà Phạm Thị Ngọc T có đơn xin xử vắng mặt, do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 01 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]Về nội dung khởi kiện:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử nhận thấy:

Ông Nguyễn Ngọc S và bà Phạm Thị Ngọc T chung sống vào năm 2020, đến năm 2023 có đăng ký kết hôn tại UBND phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận vào ngày 29/9/2023, số 196/2023. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa ông S, bà T là hợp pháp. Trong quá trình chung sống mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và tự sống ly thân. Nay ông S yêu cầu ly hôn thì bà T đồng ý. Qua đây, cho thấy tình trạng hôn nhân giữa ông S và bà T thật sự là có mâu thuẫn xảy ra, bà T và ông S không còn chung sống với nhau thời gian đã lâu nên mục đích hôn nhân không đạt được nữa, do đó xét thấy không cần thiết phải tiếp tục hàn gắn để duy trì cuộc hôn nhân này nên cho ông S, bà T được ly hôn là phù hợp, đảm bảo quyền lợi hợp pháp chính đáng cho ông S, bà T.

Từ những nhận định trên có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Ngọc S.

Về con chung: có 1 con Nguyễn Bảo H, sinh ngày 06/6/2021. Ông S yêu cầu nuôi con và bà T đồng ý giao con cho ông S được thể hiện qua giấy thoả thuận giao con ngày 17/11/2024 của ông S, bà T nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu giao con cho ông S nuôi dưỡng, ông S không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con là đúng theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: ông S, bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên hội đồng xét xử không xét.

[3]Về án phí: ông S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1/Căn cứ vào: khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39, khoản 01 Điều 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự; khoản 01 Điều 51, khoản 01 Điều 56, Điều 57, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2/Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc S.

-Về quan hệ hôn nhân: ông Nguyễn Ngọc S được ly hôn với bà Phạm Thị Ngọc T.

-Về con chung: giao con Nguyễn Bảo H, sinh ngày 06/6/2021 cho ông Nguyễn Ngọc S được trực tiếp nuôi dưỡng. Ông S không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

Bà T có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

-Về tài sản chung và nợ chung: ông S, bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3/Về án phí: ông Nguyễn Ngọc S nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình. Ông S đã nộp 300.000 đồng tạm ứng phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số 0002068 ngày 01/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Phan Thiết, được chuyển thành án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Quyền kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự,
  • - VKSND TP. Phan Thiết;
  • - Chi cục THADS TP. Phan Thiết;
  • - UBND phường Mũi Né, Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

VŨ THỊ THU HÀ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2024/HNGĐ - ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 103/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger