Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẾN CẦU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2024/HS-ST

Ngày 26-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Chu Y.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Rẽn;

Bà Lê Thị Sinh Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vương Quốc Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Huỳnh Ngọc Kiều Tranh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 95/2024/HS-ST ngày 30 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Võ Thành T (tên gọi khác: Cá kiểng), sinh ngày 01/01/1985, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú: ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn S và bà Mai Thị T1; có vợ và 01 người con, sinh năm 2021; tiền án: không có, tiền sự: không có; nhân thân: Ngày 15/5/2021, bị Công an xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, nộp phạt ngày 07/7/2021. Ngày 30/11/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong hình phạt bổ sung ngày 23/02/2022 và ngày 28/3/2022, chấp hành xong án phí ngày 15/12/2022 và hình phạt ngày 10/4/2023; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/7/2024, tạm giam từ ngày 27/7/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện B. Có mặt.
  2. Trần Quốc T2, sinh ngày: 10/6/1986, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Khu phố C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh; Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C và bà Ngô Thị S1; có vợ và 02 người, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2017; tiền án: không có; tiền sự: không có; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/7/2024, đến ngày 26/7/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  3. Nguyễn Văn T3, sinh ngày: 01/01/1976, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ (Đã chết) và bà Trần Thị N; có vợ và 02 người con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2005; tiền án: không có; tiền sự: không có; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/7/2024, đến ngày 26/7/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  4. Trần Minh T4, sinh ngày: 15/10/1982, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T5 và bà Lâm Thị G (Đã chết); có vợ và 02 người con, sinh năm 2008 và 2015; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/7/2024, đến ngày 26/7/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  5. Nguyễn Văn L, sinh ngày: 08/6/1992, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Phạm Thị H; có vợ và 01 người con sinh năm 2022; tiền án: không có; tiền sự: không có; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/7/2024, đến ngày 26/7/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  6. Bùi Văn N1 (tên gọi khác: L1), sinh ngày: 12/6/1992, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Đ2 và bà Phan Thị C1; có vợ và 01 con, sinh năm: 2023; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: Ngày 06/11/2018, bị Công an thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 200.000 đồng về hành vi “Gây mất trật tự khu dân cư”, chấp hành nộp phạt ngày 13/11/2018; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/7/2024, đến ngày 26/7/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  7. Lê Minh T6, sinh ngày: 07/7/1977, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú: Khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh T7 và bà Trần Thị R; đã có vợ và 01 người con sinh năm 2006; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/7/2024, đến ngày 26/7/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  8. Đoàn Văn T8, sinh ngày: 13/11/1972, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn R1 (Đã chết) và bà Cao Thị C2 (Đã chết); đã có vợ và 02 người con sinh năm 1990 và 1995; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/7/2024, đến ngày 26/7/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị D, sinh ngày 01/01/1960. Địa chỉ: ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh. vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 17/7/2024, Võ Thành T mang theo 3.000.000 đồng và 01 điện thoại di động màu vàng, không gắn sim đến quán cà phê không biển hiệu của bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1960, tại ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh làm cái đánh bạc dưới hình thức nhận cá cược đá gà Tho Mo được thua bằng tiền, phát trực tiếp trên mạng Internet. Lúc này, Trần Quốc T2 và Nguyễn Văn T3 đến xin hùn tiền theo cái để nhận cá cược, thì T đồng ý. Trong lúc T, T2, T3 làm cái đã nhận cá cược đá gà mạng cho những người tham gia đặt cược gồm: Nguyễn Văn L, Bùi Văn N1, Lê Minh T6, Đoàn Văn T8 và Trần Minh T4. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Công an huyện B phối hợp cùng Công an xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh đến kiểm tra, bắt quả tang 07 người và thu giữ vật chứng có liên quan, trong đó có số tiền tại chiếu bạc 2.350.000 đồng, thu giữ của những người tham gia đánh bạc 18.570.000 đồng. Nguyễn Văn T3 chạy thoát, sau đó ra đầu thú giao nộp 200.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận sử dụng số tiền 21.120.000 đồng vào việc đánh bạc cụ thể như sau:

  • Võ Thành T mang theo 3.000.000 đồng và 01 điện thoại di động màu vàng, không gắn sim làm cái đánh bạc 10 trận, thua số tiền 1.600.000 đồng, khi đang chờ phát trực tiếp đá gà trận tiếp theo để nhận cá cược thì Công an đến bắt quả tang nên Tân bỏ tại chiếu bạc số tiền 1.400.000 đồng.
  • Trần Quốc T2 mang theo 200.000 đồng hùn cái đánh bạc với T 02 trận, mỗi trận 100.000 đồng, không thắng không thua nên bị tạm giữ 200.000 đồng.
  • Nguyễn Văn T3 mang theo 200.000 đồng hùn cái đánh bạc với T 02 trận, mỗi trận 100.000 đồng, không thắng không thua thì Công an đến bắt quả tang nên chạy thoát và sau đó ra đầu thú giao nộp 200.000 đồng.
  • Trần Minh T4 mang theo 9.750.000 đồng tham gia đánh bạc 02 trận, thắng số tiền 250.000 đồng nên bị tạm giữ 10.000.000 đồng.
  • Nguyễn Văn L mang theo 7.760.000 đồng tham gia đánh bạc 05 trận, thua 900.000 đồng nên bị tạm giữ 6.860.000 đồng.
  • Lê Minh T6 mang theo 1.200.000 đồng tham gia đánh bạc 03 trận, mỗi trận ít nhất 100.000 đồng, nhiều nhất 200.000 đồng, không thắng không thua nên bị tạm giữ 1.200.000 đồng.
  • Bùi Văn N1 mang theo 510.000 đồng tham gia đánh bạc 04 trận, mỗi trận ít nhất 100.000 đồng, nhiều nhất 200.000 đồng, thua số tiền 200.000 đồng nên bị tạm giữ 310.000 đồng.
  • Đoàn Văn T8 mang theo 300.000 đồng tham gia đánh bạc 03 trận, mỗi trận 100.000 đồng, thua số tiền 300.000 đồng nên không bị tạm giữ tiền.

* Tại Kết luận giám định số 1615/KL-KTHS ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: 36 (Ba mươi sáu) tờ tiền Việt Nam đồng (P) mệnh giá 500.000; 10 (Mười) tờ tiền Việt Nam đồng (P) mệnh giá 200.000; 08 (Tám) tờ tiền Việt Nam đồng (Polyme) mệnh giá 100.000; 06 (Sáu) tờ tiền Việt Nam đồng (P) mệnh giá 50.000; 01 (Một) tờ tiền Việt Nam đồng (P) mệnh giá 20.000 cần giám định là tiền thật.

* Vật chứng thu giữ: 01 gói niêm phong (ký hiệu KHBQ 23/2024) bên trong có tiền Việt Nam 21.120.000 đồng; 01 điện thoại di động, màu vàng, mặt sau có chữ MI, không có sim điện thoại, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động, màu xanh, mặt sau có chữ OPPO, số sê ri: 3379281c, số imei 1: 869571058780693, không có sim điện thoại, đã qua sử dụng; 05 cái ghế bằng nhựa màu đỏ; 02 cái bàn bằng nhựa màu đỏ.

Tại bản Cáo trạng số: 99/CT-VKSBC ngày 30 tháng 10 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh truy tố các bị cáo Võ Thành T, Trần Quốc T2, Nguyễn Văn T3, Trần Minh T4, Nguyễn Văn L, Bùi Văn N1, Lê Minh T6, Đoàn Văn T8 về tội “Đánh bạc” theo điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Võ Thành T, Trần Quốc T2, Nguyễn Văn T3, Trần Minh T4, Nguyễn Văn L, Bùi Văn N1, Lê Minh T6, Đoàn Văn T8 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh thay đổi quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: tuyên bố các bị cáo Võ Thành T, Trần Quốc T2, Nguyễn Văn T3, Trần Minh T4, Nguyễn Văn L, Bùi Văn N1, Lê Minh T6, Đoàn Văn T8 phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Về mức hình phạt:

  1. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Thành T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Phạt bổ sung từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
  2. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65, Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Quốc T2 từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, đề nghị ấn định thời gian thử thách theo quy định. Phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
  3. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65, Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T3 từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, đề nghị ấn định thời gian thử thách theo quy định. Phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
  4. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65, Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Minh T4 từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, đề nghị ấn định thời gian thử thách theo quy định. Phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
  5. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65, Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, đề nghị ấn định thời gian thử thách theo quy định. Phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
  6. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn N1 từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, đề nghị ấn định thời gian thử thách theo quy định. Phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
  7. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Minh T6 từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, đề nghị ấn định thời gian thử thách theo quy định. Phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
  8. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65, Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đoàn Văn T8 từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, đề nghị ấn định thời gian thử thách theo quy định. Phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng trong vụ án theo quy định pháp luật.

Các bị cáo Võ Thành T, Trần Quốc T2, Nguyễn Văn T3, Trần Minh T4, Nguyễn Văn L, Bùi Văn N1, Lê Minh T6, Đoàn Văn T8 không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo đã nhận thức được hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về xác định tội danh: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 17/7/2024, tại quán cà phê không biển hiệu của bà Nguyễn Thị D thuộc ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh, Công an huyện B phối hợp cùng Công an xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh bắt quả tang Võ Thành T sử dụng điện thoại di động kết nối Wifi phát trực tiếp đá gà trên mạng Internet cho Trần Quốc T2, Nguyễn Văn T3 tham gia hùn cái cá cược được thua bằng tiền cho những người tham gia gồm: Trần Minh T4, Nguyễn Văn L, Bùi Văn N1, Lê Minh T6, Đoàn Văn T8 với tổng số tiền dùng đánh bạc là 21.120.000 đồng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính của Nhà nước nên phải chịu trách nhiệm hình sự đã phạm vào tội “Đánh bạc”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thay đổi truy tố là phù hợp nên chấp nhận.

[3] Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, bản thân các bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo biết rõ hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, nhưng vì thu lợi và thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà các bị cáo cố tình thực hiện. Do đó cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo để giáo dục răn đe các bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

[4] Xét hành vi phạm tội của từng bị cáo thì thấy rằng:

[4.1] Bị cáo T chuẩn bị phương tiện, khởi xướng việc đánh bạc và làm cái nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự cao nhất trong vụ án.

[4.2] Bị cáo T2 và bị cáo T3 tham gia làm cái nên phải chịu mức hình phạt cao sau bị cáo T.

[4.3] Bị cáo T8 và bị cáo L mang theo số tiền đánh bạc cao nhất nên mức trách nhiệm hình sự của các bị cáo tiếp sau và cao hơn các bị cáo còn lại.

[4.4] Các bị cáo N1, T6, T8 tham gia đánh bạc nên phải chịu trách nhiệm tương ứng với tính chất, mức độ của hành vi của từng bị cáo đã thực hiện.

[5] Khi quyết định hình phạt, có xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

[5.1] Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[5.2] Tình tiết giảm nhẹ: Tất cả các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Riêng các bị cáo T2, T3, Trần Minh T4, L, T6, Đoàn Văn T8 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo N1 nhận được thư cảm ơn của UBND xã A, thị xã T và bị cáo T6 có bác ruột là liệt sĩ, có ông bà nội được Chính phủ tặng “Bảng vàng gia đình danh dự” nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Áp dụng hình phạt: Xét đề nghị của Kiểm sát viên về việc áp dụng hình phạt đối với từng bị cáo thì thấy rằng:

[6.1] Hành vi phạm tội của bị cáo T mang tính chất nguy hiểm, bị cáo đã từng bị xử phạt hành chính và hình sự về hành vi đánh bạc nhưng lại tiếp tục phạm tội nên phải xử lý nghiêm. Do đó Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt tù mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo. Đồng thời phạt bổ sung bị cáo một số tiền để sung vào ngân sách nhà nước.

[6.2] Các bị cáo còn lại tham gia đánh bạc nên cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mới tương xứng với vai trò của các bị cáo trong vụ án, tuy nhiên xét thấy các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo biết chấp hành pháp luật. Cần phạt bổ sung các bị cáo một số tiền để sung vào ngân sách nhà nước.

[7] Xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 gói niêm phong (ký hiệu KHBQ 23/2024) bên trong có tiền Việt Nam 21.120.000 đồng và 01 điện thoại di động, màu vàng, mặt sau có chữ MI, không có sim điện thoại, đã qua sử dụng;
  • Trả cho bị cáo Lê Minh T6 01 điện thoại di động, màu xanh, mặt sau có chữ OPPO, số sê ri: 3379281c, số imei 1: 869571058780693, không có sim điện thoại, đã qua sử dụng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
  • Trả cho bà Nguyễn Thị D: 05 cái ghế bằng nhựa màu đỏ và 02 cái bàn bằng nhựa màu đỏ.
  • (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/11/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh)

  • Tiếp tục các Lệnh kê biên tài sản số 479, 480, 481/LKB – HS, KS, MT ngày 30/9/2024 và các Lệnh Phong tỏa tài khoản số 486, 487, 488, 489/LKB – HS, KS, MT ngày 30/9/2024 của Thủ trưởng Cơ quan cảnh sát điều tra huyện B, tỉnh Tây Ninh để đảm bảo thi hành án.

[8] Đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt áp dụng cho từng bị cáo là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: các bị cáo Võ Thành T (tên gọi khác: Cá K), Trần Quốc T2, Nguyễn Văn T3, Trần Minh T4, Nguyễn Văn L, Bùi Văn N1 (tên gọi khác: L1), Lê Minh T6, Đoàn Văn T8 phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Về hình phạt:
    1. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
    2. Xử phạt bị cáo Võ Thành T: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/7/2024.

      Phạt bổ sung bị cáo Võ Thành T số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

    3. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
    4. Xử phạt bị cáo Trần Quốc T2: 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là: 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

      Giao bị cáo Trần Quốc T2 cho Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

      Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

      Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

      Phạt bổ sung bị cáo Trần Quốc T2 số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

    5. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
    6. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T3: 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là: 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

      Giao bị cáo Nguyễn Văn T3 cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

      Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

      Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

      Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn T3 số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

    7. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
    8. Xử phạt bị cáo Trần Minh T4: 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

      Giao bị cáo Trần Minh T4 cho Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

      Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

      Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

      Phạt bổ sung bị cáo Trần Minh T4 số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

    9. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
    10. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L: 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

      Giao bị cáo Nguyễn Văn L cho Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

      Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

      Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

      Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn L số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

    11. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
    12. Xử phạt bị cáo Bùi Văn N1: 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là: 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

      Giao bị cáo Bùi Văn N1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

      Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

      Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

      Phạt bổ sung bị cáo Bùi Văn N1 số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

    13. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
    14. Xử phạt bị cáo Lê Minh T6: 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là: 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

      Giao bị cáo Lê Minh T6 cho Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

      Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

      Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

      Phạt bổ sung bị cáo Lê Minh Thông S2 tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

    15. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
    16. Xử phạt bị cáo Đoàn Văn T8: 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là: 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

      Giao bị cáo Đoàn Văn T8 cho Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

      Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

      Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

      Phạt bổ sung bị cáo Đoàn Văn T8 số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

  3. Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 gói niêm phong (ký hiệu KHBQ 23/2024) bên trong có tiền Việt Nam 21.120.000 đồng và 01 điện thoại di động, màu vàng, mặt sau có chữ MI, không có sim điện thoại, đã qua sử dụng;
    • Trả cho bị cáo Lê Minh T6 01 điện thoại di động, màu xanh, mặt sau có chữ OPPO, số sê ri: 3379281c, số imei 1: 869571058780693, không có sim điện thoại, đã qua sử dụng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
    • Trả cho bà Nguyễn Thị D: 05 cái ghế bằng nhựa màu đỏ và 02 cái bàn bằng nhựa màu đỏ.
    • (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/11/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh)

    • Tiếp tục các Lệnh kê biên tài sản số 479, 480, 481/LKB – HS, KS, MT ngày 30/9/2024 và các Lệnh Phong tỏa tài khoản số 486, 487, 488, 489/LKB – HS, KS, MT ngày 30/9/2024 của Thủ trưởng Cơ quan cảnh sát điều tra huyện B, tỉnh Tây Ninh để đảm bảo thi hành án.
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Võ Thành T, Trần Quốc T2, Nguyễn Văn T3, Trần Minh T4, Lê Minh T6, Nguyễn Văn L, Bùi Văn N1, Đoàn Văn T8 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Phòng KT.NV TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Bến Cầu;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - Phòng lý lịch Sở Tư pháp tỉnh;
  • - Nhà tạm giữ;
  • - THÁ phạt tù;
  • - THÁDS huyện Bến Cầu;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Chu Y

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 103/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo tham gia đánh bạc bằng hình thức cá cược đá gà
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger