TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 103/2024/HS-ST Ngày 19-11-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Minh Nhì
Bà Hồ Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa:
Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:
Ông Danh Bình - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 11 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 111/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Văn K, sinh ngày 21 tháng 10 năm 2000 tại A, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp C, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Trần Văn Đ và bà Đoàn Kim L; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang ngày 27/6/2024, tạm giữ ngày 28/6/2024, tạm giam ngày 05/7/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ ngày 27/6/2024 nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc có 01 nam thanh niên đi từ hướng kênh 26 đến ngã ba V thuộc ấp V, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy, lực lượng Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện A phối hợp cùng với Công an xã Đ, huyện A phát hiện bắt quả tang Trần Văn K tại vị trí bị bắt có 01 khẩu trang màu trắng đã qua sử dụng, bên trong có chứa 01 (một) gói nylon trong suốt được hàn kín có rảnh gài, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất nghi là ma túy nên tiến hành thu giữ và niêm phong. Đối tượng bị bắt Trần Văn K, sinh ngày 21/10/2000, địa chỉ: ấp C, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
Quá trình điều tra đã xác định: Vào khoảng 12 giờ ngày 27/6/2024 Trần Văn K đang ở nhà tại ấp C, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang thì có người tên Ý ở ấp V, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang kêu K chạy ra khu bải rác thuộc ấp V, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang để lấy ma túy đá và lấy tiền vì trước đó Ý có mua mật ong của K với giá 1.400.000 đồng, Ý trả trước 200.000 đồng, số tiền còn lại Ý nợ nên đến ngày 27/6/2024, Ý đổi ma túy đá và trả tiền cho K. K nói không có xe nên Ý nói sẽ đem tiền và ma túy ra ngã ba V kêu K ra lấy thì K đồng ý. Đến khoảng 15 giờ thì Ý nói với K đã đem ma túy quấn trong khẩu trang màu trắng để ở ngã ba V, lúc này K sử dụng vỏ máy của gia đình, chạy từ nhà đến ngã ba V, khi ra đến ngã ba V. K đậu vỏ máy rồi đi lên bờ, đi được một đoạn thì thấy có 01 khẩu trang màu trắng được quấn lại nên K nhặt lên mở ra xem thì thấy bên trong có 01 gói ma túy đá, thấy không có tiền nên K gọi điện hỏi Ý tiền để đâu thì Ý nói là chuyển khoản sau. Sau đó K cầm ma túy đem về, trên đường đi xuống vỏ máy thì bị Công an huyện A kết hợp với Công an xã Đ kiểm tra, bắt giữ. Lúc này do K sợ quá nên đã ném gói ma túy xuống đất chổ K bị bắt, Công an huyện A tiến hành lập biên bản, niêm phong tang vật. Tại Cơ quan điều tra Trần Văn K thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại Kết luận số 655/KL-KTHS ngày 03/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh K kết luận: các hạt tinh thể không đồng nhất chứa trong 01 (một) gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,3287 gam.
(Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, SST 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ).
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện A thu giữ tang vật gồm: 01 (một) gói nylon trong suốt được hàn kín có rảnh gài, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,3287 gam; 01 (một) khẩu trang màu trắng đã qua sử dụng; 01 (một) Ipad Air2, IMEI:355891064205977, màu vàng gold, bị trầy xước, có dán băng keo đen, đã qua sử dụng; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy được làm bằng nhựa, nắp màu xanh trên nắp có gắn 01(một) nỏ thủy tinh và 01(một) ống hút nhựa màu xanh trắng.
Tại Cáo trạng số: 91/CT-VKSAM ngày 10-10-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Trần Văn Khang về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- - Kiểm sát viên kết luận bị cáo Trần Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn K từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong có ký hiệu vụ số 693/2024, bên trong có chứa 0,3145 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định đựng trong một gói nylon và bao gói đựng mẫu; 01 (một) khẩu trang màu trắng đã qua sử dụng; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy được làm bằng nhựa, nắp màu xanh trên nắp có gắn 01 (một) nỏ thủy tinh và 01 (một) ống hút nhựa màu xanh trắng. Tịch thu sung quỹ vào Ngân sách Nhà nước 01 (một) Ipad Air2, IMEI:355891064205977, màu vàng gold, bị trầy xước, có dán băng keo đen, đã qua sử dụng.
- - Bị cáo trình bày: Bị cáo Trần Văn K thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm đúng như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã nêu, không đối đáp, tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã thực hiện, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện cơ bản đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
- [2] Về tội danh: Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Trần Văn K phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Bởi lẽ:
- [2.1] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 27/6/2024, tại ấp V, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Công an phát hiện và bắt quả tang Trần Văn K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, kết quả điều tra xác định số ma túy trên là do Trần Văn K mua về để sử dụng. Theo Kết luận giám định chất ma túy mà Trần Văn K tàng trữ là loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,3287 gam.
- [2.2] Về tội danh: Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện khác; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ ma túy là chất quản lý đặc biệt nhưng đã tàng trữ trái phép là phạm tội với lỗi cố ý; mục đích tàng trữ ma túy của bị cáo là để sử dụng, không nhằm để mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy; loại ma túy bị cáo tàng trữ là Methamphetamine có khối lượng 0,3287 gam. Do đó, hành vi của bị cáo Trần Văn K phạm đã đủ các yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- [3] Về hình phạt:
- [3.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng hành vi phạm tội là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội khác và bất bình trong nhân dân. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy cũng như hậu quả và những hệ lụy của việc sử dụng chất ma túy để lại đối với sức khỏe, kinh tế của bản thân người sử dụng, gia đình và xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm để có thời gian giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.
- [3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- [3.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng bị cáo đã phạm tội nghiêm trọng có khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù, làm phức tạp thêm tình hình tệ nạn ma túy, gây bất ổn và gây dư luận không tốt ở địa phương nên cần phải áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định. Khi lượng hình thấy bị cáo có nhân thân tốt, mới phạm tội lần đầu, số lượng ma túy tàng trữ không nhiều nên chỉ cần xử phạt ở mức đầu khung hình phạt là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo.
- [4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, HĐXX nhận thấy lẽ ra áp dụng hình phạt bổ sung để tăng tính răn đe. Tuy nhiên, nhận thấy bị cáo có thu nhập thấp, không ổn định, phải thi hành hình phạt tù khó đảm bảo khả năng thi hành án nên không áp dụng đối với bị cáo.
- [5] Về vật chứng, đối với số ma túy và dụng cụ sử dụng là vật cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy, đối với chiếc Ipad là phương tiện bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- [6] Về án phí, bị cáo Trần Văn K chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- [7] Đối với Lê Hoàng Ý không thừa nhận có quen biết và bán ma túy cho Trần Văn K, hiện chưa đủ cơ sở để xử lý, đề nghị Viện kiểm sát, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- 1.1- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn K 01 (một) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt phạm tội quả tang (ngày 27-6-2024).
- 1.2- Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng.
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong có ký hiệu vụ số 693/2024, có chữ ký của giám định viên Lê Đức H, người chứng kiến niêm phong Nguyễn Trường D và hình dấu tròn của Phòng K1 - Công an tỉnh K, bên trong có chứa 0,3145 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định đựng trong một gói nylon và bao gói đựng mẫu; 01 (một) khẩu trang màu trắng đã qua sử dụng; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy được làm bằng nhựa, nắp màu xanh trên nắp có gắn 01 (một) nỏ thủy tinh và 01(một) ống hút nhựa màu xanh trắng.
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) Ipad Air2, IMEI:355891064205977, màu vàng gold, bị trầy xước, có dán băng keo đen, đã qua sử dụng.
(hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 41/QĐ-VKS-AM ngày 10-10-2024 của VKSND huyện An Minh).
- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Trần Văn K chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 19-11-2024)./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 103/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 103/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
