Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2024/HS - ST

Ngày: 18-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Như Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Xuân Giới

Ông Nguyễn Văn Bẩy

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố

Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều tham gia phiên

tòa: Bà Phạm Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 13 và 18 tháng 11 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 99/2024/TLST - HS ngày 22 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2024/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Anh T; sinh ngày 23/8/1993, tại thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: khu E, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Cán bộ Công an Trại giam Q, Bộ C (đã xuất ngũ ngày 06/5/2024); trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1 và bà Nguyễn Thị B; vợ: Bùi Thị T2 (đã ly hôn); con: có 01 con, sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không có; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 20/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Trịnh Phúc T3; nơi cư trú: tổ A, khu H, phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Khương Đình T4; nơi cư trú: thôn A, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên; có mặt tại phiên tòa ngày 13/11/2024, vắng mặt tại phiên tòa ngày 18/11/2024, có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Anh Đặng Việt A; nơi cư trú: thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên; có mặt.

3. Bà Nguyễn Thị B1; nơi cư trú: thôn Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương; có mặt.

- Người làm chứng: anh Nguyễn Văn P; vắng mặt.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu thuê xe ôtô tự lái và qua mạng xã hội Facebook, Trần Anh T tìm được số điện thoại của anh Trịnh Phúc T3 là người kinh doanh dịch vụ cho thuê xe ô tô tự lái.

Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 15/4/2024, thông qua mạng xã hội Zalo, T nhắn tin cho anh T3 hỏi thuê xe ôtô và tự giới thiệu T đang công tác tại Trại giam Công an tỉnh Q rồi gửi hình ảnh căn cước công dân cùng Giấy phép lái xe mang tên Trần Anh T qua tin nhắn zalo cho anh T3. Thấy hình ảnh trong Giấy phép lái xe là người mặc trang phục ngành Công an nhân dân nên anh T3 gửi định vị vị trí cửa hàng để T đến thuê xe.

Khoảng 10 giờ 20 phút cùng ngày, T đến cửa hàng dịch vụ cho thuê xe ôtô của anh T3 ở tổ A, khu H, phường M, thị xã Đ (nay là thành phố Đ), tỉnh Quảng Ninh gặp và đưa cho anh T3 căn cước công dân cùng Giấy phép lái xe (bản chính) của T để đối chiếu. Thấy T đúng là người trong ảnh nên anh T3 đã chụp ảnh lại và lập 01 (một) bản Hợp đồng cho T thuê chiếc xe ôtô nhãn hiệu Mazda 6 màu trắng, biển kiểm soát 14A - 127.66 (không có thời hạn thuê xe), với giá 1.200.000đ/01 ngày thuê xe rồi bàn giao chiếc xe trên cùng giấy tờ xe (gồm chứng nhận đăng ký, chứng nhận kiểm định và bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của xe đều mang tên Nguyễn Văn P) cho T.

Sau khi thuê được xe ô tô trên, đến trưa cùng ngày, T nảy sinh ý định mang chiếc xe trên đi cầm cố lấy tiền để chi tiêu cá nhân nên đã điều khiển xe ô tô đến cửa hàng nội thất ôtô Hải Đ (ở phường B, thành phố M, tỉnh Hưng Yên) gặp anh Khương Đình T4, là quản lý cửa hàng để nhờ anh T4 cầm cố chiếc xe trên; anh T4 giới thiệu T với anh Đặng Việt A (tên gọi khác là T5).

Khi đến quán của anh T4 gặp T, thấy giấy tờ xe ôtô không chính chủ và được T cho biết xe T mua lại của người khác đang làm thủ tục sang tên nên anh Việt A không nhận cầm cố, vì vậy T nói đang cần tiền giải quyết công việc nên tạm thời bán chiếc xe này cho anh Việt A với giá 100.000.000đ (một trăm triệu đồng), hẹn 10 đến 20 ngày sau sẽ đến mua lại chiếc xe trên, anh Việt A đồng ý với điều kiện T sẽ phải trả cho Việt A 3.000.000 đồng chi phí đồng thời yêu cầu T viết hợp đồng mua bán xe. Sau đó, Việt A đã chuyển 97.000.000đ (chín mươi bảy triệu đồng) từ tài khoản số 9889388886 của Việt A tại Ngân hàng V đến tài khoản số [...] của T tại Ngân hàng V1, nhận được số tiền trên, T đã sử dụng cá nhân hết.

Sau khi sử dụng hết số tiền bán xe nêu trên, sáng ngày 17/4/2024, T nhắn tin cho anh T3 nói “em lỡ cắm xe của anh rồi, giờ em đang túng quẫn quá giờ đang muốn ra quân để lấy tiền trả. Mà nó bảo tháo định vị, sợ nó tháo ra k tìm được xe nên e bảo a luôn” và cho anh T3 địa chỉ, số điện thoại của anh Việt A để anh T3 đi tìm xe ô tô nhưng không tìm được nên anh T3 đã trình báo cơ quan điều tra. Ngày 24/4/2024, Việt A tự nguyện giao nộp chiếc xe cùng giấy tờ và giấy mua bán xe trên cho Cơ quan điều tra.

3

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 34 ngày 06/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Đ kết luận: chiếc xe ôtô nhãn hiệu Mazda 6, biển kiểm soát 14A - 127.66 đã qua sử dụng có giá trị là: 355.000.000đ (ba trăm năm mươi năm triệu đồng).

Về phần dân sự trong vụ án: anh Trịnh Phúc T3 yêu cầu bị cáo Trần Anh T phải bồi thường 12.000.000đ (mười hai triệu đồng) tiền thuê xe ôtô trong thời gian 10 ngày (từ ngày 15/4/2024 đến ngày 24/4/2024). Anh Đặng Việt A yêu cầu bị cáo T phải hoàn trả cho anh Việt A số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng).

Quá trình điều tra, Trần Anh T đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, hiện T chưa bồi thường khắc phục hậu quả.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Anh T khai nhận như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Ngoài ra, Trần Anh T khai: do cần tiền chi tiêu cá nhân nên sau khi thuê xe ô tô tự lái của anh Trịnh Phúc T3 thì T nảy sinh ý định mang xe ô tô đi cầm cố để lấy tiền tiêu xài và trả nợ. Thông qua Khương Đình T4, bị cáo đã gặp Việt A mục đích để cầm cố xe ô tô. Do giấy tờ không chính chủ nên bị cáo không cầm cố được ô tô. Anh Việt A đồng ý cầm cố chiếc xe cho bị cáo với điều kiện làm hợp đồng mua bán xe, bị cáo sẽ bán lại xe cho Việt A với giá 100.000.000 đồng, hẹn 10 đến 20 ngày sau đến sẽ đến mua lại xe. Bị cáo nhận của Việt A 97.000.000 đồng, số tiền 3.000.000 đồng là tiền lãi. Số tiền lãi hai bên thỏa thuận miệng với nhau, không có giấy tờ. Sau khi nhận được tiền, bị cáo đã sử dụng hết vào mục đích cá nhân. Sau đó bị cáo đã nhắn tin cho anh T3 thú nhận việc bị cáo mang xe của anh T3 đi cầm cố. Anh T3 đi tìm xe nhưng không thấy nên đã trình báo Cơ quan điều tra. Ngày 20/6/2024 thì bị cáo bị bắt tạm giam. Trong quá trình điều tra, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho anh T3 số tiền 12.000.000 đồng. Đối với số tiền 100.000.000 đồng bị cáo nhận của anh Việt A khi bán xe, bị cáo còn nợ lại anh Việt A, bị cáo cam kết sẽ trả cho anh Việt A.

Bị hại anh Trịnh Phúc T3 có lời khai: anh có kinh doanh cho thuê xe ô tô tự lái. Ngày 15/4/2024 bị cáo T có thuê xe của anh. Sau khi làm thủ tục và giao xe cho T thì đến ngày 17/4/2024, T nhắn tin cho anh thông báo đã cắm xe và cho anh địa chỉ để đến chuộc lại. Anh đến địa chỉ T cho nhưng không tìm được xe nên đã trình báo cơ quan Công an. Quá trình giải quyết vụ án, gia đình bị cáo T đã bồi thường cho anh số tiền 12.000.000 đồng, anh không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Đặng Việt A có lời khai: bị cáo T có đến và đề nghị cầm cố chiếc xe ô tô biển kiểm soát 14A - 127.66 cho anh. Tuy nhiên, qua kiểm tra phát hiện giấy tờ xe không trùng khớp với thông tin cá nhân của T nên anh đã không cho T cầm cố. Do T nói có việc cần tiền gấp nên đã đề nghị bán tạm chiếc xe trên với giá 100.000.000 đồng và hẹn 10 đến 20 ngày sau quay lại mua chiếc xe. Anh đồng ý với điều kiện là T sẽ phải trả 3.000.000 đồng chi phí cho việc đi lại và bến bãi, giữa anh và bị cáo T không thỏa thuận về tiền lãi. Sau đó anh đã chuyển cho T số tiền 97.000.000 đồng qua tài khoản cho T. Đến nay, bị cáo T vẫn còn nợ anh số tiền 100.000.000 đồng. Anh yêu cầu T phải

4

bồi thường cho anh toàn bộ số tiền trên. Đề nghị Hội đồng xét xử xét xử bị cáo mức hình phạt đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Khương Đình T4 có lời khai: anh và bị cáo T quen biết nhau ngoài xã hội. Do anh làm quản lý tại cửa hàng N nên thỉnh thoảng T có đến cửa hàng chơi và có lần nhờ anh cầm cố giúp xe ô tô. Ngày 15/4/2024 T nhờ anh cầm cố xe ô tô Mazda 6 màu trắng, BKS 14A - 127.66, anh đã giới thiệu T với Đặng Việt A. Khi Việt A đến cửa hàng của anh, kiểm tra xe ô tô và giấy tờ xe không chính chủ nên không nhận cầm cố mà chỉ đồng ý viết giấy tờ mua bán xe. Sau đó, T và Việt A giao dịch mua bán với nhau. Anh không tham gia và cũng không được lợi gì từ giao dịch của hai người.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B1 có lời khai: bà là dì của bị cáo Trần Anh T. Do bố mẹ bị cáo T đã chết nên bị cáo đã tác động bà trả số tiền 12.000.000 đồng cho bị hại anh Trịnh Phúc T3. Bà không yêu cầu bị cáo phải trả lại cho bà số tiền trên.

Tại Cáo trạng số: 2309/CT - VKSĐT ngày 18/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã (nay là thành phố) Đông Triều truy tố bị cáo Trần Anh T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 05 (năm) năm đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 20/6/2024.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: căn cứ vào khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, khoản 1 Điều 585; khoản 1 Điều 586 Bộ luật Dân sự; Điều 246 Bộ luật Tố tụng dân sự buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Đặng Việt A số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng).

Lưu kèm trong hồ sơ vụ án 01 (một) phong bì ghi nội dung “Đĩa DVD ghi âm ghi hình”.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố

5

tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc định tội đối với bị cáo: lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 10 giờ 20 phút ngày 15/4/2024, tại tổ A, khu H, phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, Trần Anh T thuê xe ô tô nhãn hiệu Mazda 6 màu trắng, biển kiểm soát 14A - 127.66 (thuê xe tự lái), trị giá 355.000.000đ (ba trăm năm mươi năm triệu đồng) của anh Trịnh Phúc T3 với giá 1.200.000 đồng/01 ngày. Sau khi thuê được xe, T đã bán chiếc xe trên cho Đặng Việt A, trú tại thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên lấy 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) để sử dụng.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, quy định tại khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, gây ảnh hưởng đến kinh tế của người bị hại, tạo nên tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân và ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội tại địa phương. Bị cáo là người trưởng thành nên có đầy đủ khả năng nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản, tiền của người khác là hành vi trái pháp luật, khi bị phát hiện sẽ bị xử lý nghiêm khắc nhưng do ý thức chấp hành pháp luật kém, muốn được hưởng thành quả trên công sức lao động của người khác, bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi gian dối. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm với hành vi của mình gây ra.

[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo có ông ngoại Nguyễn Ngọc D được tặng thưởng Kỷ niệm chương nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích, Hội đồng xét xử xét thấy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

[5] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 175 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét bị cáo không có nghề

6

nghiệp, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại anh Trịnh Phúc T3 số tiền 12.000.000đ (mười hai triệu đồng) nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Tại phiên tòa bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đặng Việt A đã thỏa thuận với nhau về mức bồi thường thiệt hại, cụ thể bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho anh Việt A số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng). Xét thấy việc thỏa thuận giữa bị cáo và anh Việt A là tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận trên.

[7] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ: 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu mazda 6, màu trắng, biển kiểm soát 14A-127.66, 01 (một) chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số đăng ký: 14A-127.66, 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định và 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ôtô đều mang tên Nguyễn Văn P. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản của anh Trịnh Phúc T3 mua lại của anh Nguyễn Văn P nhưng chưa làm thủ tục sang tên, Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ đã trả lại chiếc xe cùng giấy tờ xe nêu trên cho anh T3 nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

[8] Về các vấn đề khác: liên quan trong vụ án còn có anh Khương Đình T4 là người giới thiệu để T cầm cố xe, anh Đặng Việt A có hành vi mua xe nhưng cả hai đều không biết chiếc xe do T phạm tội mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đối với số tiền 3.000.000 đồng bị cáo Trần Anh T khai là tiền lãi bị cáo phải trả cho anh Việt A khi vay số tiền 100.000.000 đồng trong thời gian 10 (mười) ngày. Xét thấy, bị cáo và Việt A có lập hợp đồng mua bán xe với nhau, số tiền 3.000.000 đồng bị cáo và Việt A thỏa thuận miệng với nhau, bị cáo đồng ý trả cho Việt A. Tại phiên tòa, bị cáo không chứng minh được cũng không cung cấp được các tài liệu chứng minh, do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Lưu kèm trong hồ sơ vụ án 01 (một) phong bì ghi nội dung “Đĩa DVD ghi âm ghi hình"

[9] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ: điểm a khoản 3 Điều 175; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Anh T 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 20/6/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự:

căn cứ vào khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, khoản 1 Điều 585; khoản 1 Điều 586 Bộ luật Dân sự; Điều 246 Bộ luật

7

Tố tụng dân sự, buộc bị cáo Trần Anh T phải bồi thường cho anh Đặng Việt A số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng).

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án nộp đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán xong thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất do ngân hàng N1 công bố tại thời điểm thanh toán, tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự cho đến khi thi hành án xong.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về án phí:

căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23, khoản 2, khoản 8 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Trần Anh T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 5.000.000đ (năm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Khương Đình T4 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Cơ quan điều tra Công an TP. Đông Triều;
  • - Cơ quan THAHS Công an TP. Đông Triều;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Đông Triều;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS TP. Đông Triều;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Đông Triều;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ, VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Trần Thị Như Quỳnh

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2024/HS - ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 103/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Anh Tuấn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger