Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2024/HS-ST

Ngày: 06-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: ông Nguyễn Chí Mạnh

Các Hội thẩm nhân dân: bà Đinh Thanh Hoàn và bà Nguyễn Thị Hảo

Thư ký phiên tòa: bà Đặng Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu H - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 96/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Hải N (tên gọi khác: không), giới tính: nam, sinh ngày 26/4/1985, tại thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Nơi cư trú: khu F, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Chỗ ở hiện nay: số F, ngõ A, phố H, khu H, phường N, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Hòa N1 và bà Nguyễn Thị T; vợ Nguyễn Thị L và có 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không có. Nhân thân: ngày 13/01/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 21/5/2011 chấp hành xong. Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 10/7/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M, tỉnh Quảng Ninh - có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1963. Nơi thường trú: số B, đường T, khu F, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh - vắng mặt.

- Người chứng kiến: anh Nguyễn Văn T1 - vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 02/2024, Bùi Hải N có quen người đàn ông tên là B (không rõ lai lịch, địa chỉ), qua nói chuyện N biết Ba có nguồn thuốc lá điếu do Trung Quốc sản xuất bán, nên đã nảy sinh ý định mua thuốc lá điếu về bán kiếm lời. Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 02/2024 đến cuối tháng 6/2024, tại nhà của N ở khu H, phường N, thành phố M, N đã nhiều lần mua thuốc lá điếu nhập lậu của B, với giá 80.000 đồng/cây thuốc lá điếu nhãn hiệu GUYAN, 130.000 đồng/cây thuốc lá điếu nhãn hiệu NANJING, 110.000 đồng/cây thuốc lá điếu nhãn hiệu CHUNGHWA, 90.000 đồng/cây thuốc lá điếu nhãn hiệu LIGUN, 80.000 đồng/cây thuốc lá điếu nhãn hiệu YELLOW CRANE TOWER, 150.000 đồng/cây thuốc lá điếu nhãn hiệu HUANGHELOU, 90.000 đồng/cây thuốc lá điếu nhãn hiệu SHUANGXI, 200.000 đồng/cây thuốc lá điếu nhãn hiệu DIAMOND (HEHUA), 400.000 đồng/cây thuốc lá điếu vỏ cây màu trắng có in chữ nước ngoài, 80.000 đồng/cây thuốc lá điếu nhãn hiệu YUNYAN và 350.000 đồng/cây thuốc lá điếu nhãn hiệu HARMONIZATION, với tổng số tiền khoảng 40.000.000 đồng. Sau khi mua được thuốc lá điếu, Nam cất giấu tại nhà của N ở khu H, phường N và tại nhà bố, mẹ đẻ của N ở khu F, phường K, thành phố M, rồi đem bán lẻ cho nhiều người để lấy tiền lãi từ 10.000 đồng đến 100.000 đồng/cây.

Đến khoảng 10 giờ ngày 09/7/2024, N nhận được cuộc gọi từ số điện thoại 0359.177.xxx của người đàn ông tên D (không rõ lai lịch, địa chỉ) hẹn gặp nhau tại quán nước đối diện bến xe khách K thuộc khu E, phường K, thành phố M. Tại đây, D giới thiệu cho N một người đàn ông tên Hoàng A (không rõ lai lịch, địa chỉ) là người có nhu cầu mua thuốc lá điếu do Trung Quốc sản xuất. Sau đó, Hoàng A đặt vấn đề mua tổng cộng 29 cây thuốc lá điếu gồm các nhãn hiệu GUIYAN, NANJING, CHUNGHWA, LIGUN, YELLOW CRANE TOWER, HUANGHELOU màu tím, HUANGHELOU màu vàng, SHUANGXI bao mềm, SHUANGXI bao cứng, DIAMOND, HARMONIZATION và thuốc lá điếu vỏ cây màu trắng có in chữ nước ngoài, N đồng ý bán, với giá 7.000.000 đồng và hẹn gặp nhau tại khu vực phía sau Trung tâm Y tế thành phố M thuộc khu E, phường K, thành phố M. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, N cất giấu 29 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu các loại vào trong 01 thùng bìa cát tông, rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 14K1-060.97 chở đến nơi hẹn để bán thuốc lá điếu cho Hoàng A, nhưng chưa kịp bán thì bị Tổ công tác của Đội Quản lý thị trường số A1 - Cục Quản lý thị trường tỉnh Q kiểm tra, phát hiện thu giữ của N 01 thùng bìa cát tông kích thước (25x40x30)cm, bên trong có 03 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu GUIYAN; 02 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu NANJING; 03 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu CHUNGHWA; 02 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu LIGUN; 02 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu YELLOW CRANE TOWER; 02 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu HUANGHELOU màu tím; 02 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu HUANGHELOU màu vàng; 02 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu SHUANGXI bao mềm; 03 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu SHUANGXI bao cứng; 02 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu DIAMOND; 03 cây thuốc lá điếu vỏ cây màu trắng không in chữ, mặt trong vỏ cây thuốc có in chữ Trung Quốc LIGUN, nhãn hiệu in trên bao thuốc HARMONIZATION và 03 cây thuốc lá điếu vỏ cây màu trắng có in chữ nước ngoài, tổng cộng là 29 cây = 290 bao. Ngoài ra, còn tạm giữ của N 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 14K1-060.97 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 Pro Max, màu đen, gắn 02 sim số 0332.378.869 và 0869.000.890. Bùi Hải N còn tự nguyện giao nộp 26 cây thuốc lá điếu vỏ cây màu trắng không in chữ, mặt trong vỏ cây thuốc có in chữ Trung Quốc LIGUN, nhãn hiệu in trên bao thuốc HARMONIZATION; 01 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu SHUANGXI bao cứng; 03 cây thuốc lá điếu vỏ cây màu trắng có in chữ nước ngoài; 03 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu NANJING; tổng cộng là 33 cây = 330 bao đang cất giấu tại chỗ ở của N ở số F, ngõ A, phố H, khu H, phường N, thành phố M và 07 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu DIAMOND; 18 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu SHUANGXI bao cứng; 11 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu HUANGHELOU; 04 cây thuốc lá điếu vỏ cây màu trắng có in chữ nước ngoài; 03 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu CHUNGHWA; 08 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu SHUANGXI bao mềm; 01 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu NANJING; 01 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu YUNYAN; 17 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu YELLOW CRANE TOWER và 22 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu GUIYAN, tổng cộng là 92 cây = 920 bao đang cất giấu tại nhà bố, mẹ của N ở số B, đường T thuộc khu F, phường K, thành phố M.

Tổng số lượng thuốc lá điếu nhập lậu đã phát hiện, thu giữ của N là 154 cây = 1.540 bao thuốc lá điếu, loại 10 bao/cây, 20 điếu/bao.

Tại Chứng thư giám định về tình trạng và nguồn gốc số 24D06GCV00078-01 ngày 17/7/2024, của V, kết luận: lô hàng gồm 154 cây = 1.540 bao thuốc lá điếu, gồm các nhãn hiệu GUYAN, NANJING, CHUNGHWA, LIGUN, YELLOW CRANE TOWER, HUANGHELOU, SHUANGXI, DIAMOND (HEHUA), YUNYAN, HARMONIZATION và loại vỏ cây thuốc màu trắng, mã vạch 6901028011785, ghi thu của Bùi Hải N, gửi giám định, đều không sản xuất tại Việt Nam. Lô hàng thuốc lá điếu trên, đều bị ẩm mốc, hư hỏng, không còn giá trị sử dụng.

Quá trình điều tra, Bùi Hải N khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Ngoài ra, N còn khai toàn bộ số thuốc lá điếu N đã mua của Ba, được người đàn ông tên là T2 (không rõ lai lịch, địa chỉ) sử dụng điện thoại có số thuê bao 0706.723.333, đem đến nhà của N, giao cho N và N đã trả tiền cho T2. Trước đó, N đã bán cho D 01 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu HEHUA, với giá 300.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: đối với 1.285 bao thuốc lá điếu các loại hoàn lại sau giám định đã bị ẩm mốc, hư hỏng, không còn giá trị sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M đã ra quyết định tiêu hủy; xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, màu sơn đen-trắng, biển kiểm soát 14K1-060.97, quá trình điều tra xác định là của bà Nguyễn Thị T (là mẹ đẻ của N) cho N mượn, bà T không biết việc N sử dụng xe vào việc phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho bà T. Số vật chứng còn lại, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng, chờ xử lý theo quy định.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T có lời khai: bà là mẹ đẻ của bị cáo Bùi Hải N. Ngày 10/7/2024 bà được Công an thành phố M thông báo việc Bùi Hải N có hành vi buôn bán hàng cấm là thuốc là điếu do nước ngoài sản xuất và bị Công an bắt giữ. Cơ quan điều tra có thu giữ của N 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 14K1-060.97, mà Bùi Hải N2 (con trai) bà mua vào năm 2013 của chị Vũ Thị Phương M với số tiền 15.000.000 đồng. Sau đó N2 không có nhu cầu sử dụng nên đã cho lại bà để bà sử dụng. Nay N dùng chiếc xe trên để vận chuyển buôn bán hàng cấm bà không được biết, vì thế Công an đã trả lại cho bà để sử dụng nên bà không có ý kiến gì.

Người chứng kiến anh Nguyễn Văn T1 có lời khai: khoảng 14 giờ 30 phút ngày 09/7/2024, tại khu vực phố B thuộc phường K, thành phố M anh được cán bộ Đội quản lý thị trường số A1 mời chứng kiến khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính đối với người thanh niên đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 14K1-060.97 tại đây, người thanh niên khai tên Bùi Hải N, sinh năm 1985, địa chỉ: khu F, phường K, thành phố M. Lực lượng quản lý thị trường kiểm tra 01 (một) thùng bìa cát tông trên xe mô tô 14K1-060.97, phát hiện có 29 cây = 290 bao thuốc lá điếu các loại. N khai đây là thuốc lá điếu mua của đối tượng tên Ba và T2 (không rõ lai lịch, địa chỉ), tất cả đều có nguồn gốc nhập lậu, mục đích để bán kiếm lời. Đồng thời N khai thêm ngoài 290 bao thuốc lá này N còn cất giấu tại nhà riêng số 06 ngõ A, phố H, khu H, phường N và số B, đường T, khu F, phường K, thành phố M và đưa tổ công tác về để giao nộp lại 33 cây = 330 bao thuốc lá điếu các loại tại địa chỉ 06 ngõ A, phố H, khu H, phường N và 92 cây = 920 bao thuốc lá điếu các loại tại địa chỉ B, đường T, khu F, phường K, thành phố M.

Bản Cáo trạng số 1951/CT-VKSMC ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo Bùi Hải N về tội “Buôn bán hàng cấm”, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái giữ quyền công tố Nhà nước vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Bùi Hải N về tội “Buôn bán hàng cấm”, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị: Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Hải N từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/7/2024.

Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 Pro max, màu đen.

Truy thu của bị cáo N số tiền 300.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

Tịch thu tiêu hủy 02 sim điện thoại số 0332.378.xxx và 0869.000.890; 01 (một) thùng bìa cát tông, kích thước (25x40x30)cm.

Phần tranh luận: bị cáo không tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Bùi Hải N về tội “Buôn bán hàng cấm”, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về chứng cứ: tại phiên tòa bị cáo Bùi Hải N hoàn toàn nhận tội và khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

[3] Như vậy căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo trước Tòa, lời khai của người có quyền lợi nghịa vụ liên quan, người chứng kiến, vật chứng vụ án, chứng thư giám định, biên bản kiểm tra hành chính và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: ngày 09/7/2024, tại khu E, khu F, phường K và khu H, phường N, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Bùi Hải N có hành vi cất giấu trái phép 1.540 (Một nghìn năm trăm bốn mươi) bao thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất (trong đó 250 bao nhãn hiệu GUYAN, 60 bao nhãn hiệu NANJING, 60 bao nhãn hiệu CHUNGHWA, 20 bao nhãn hiệu LIGUN, 190 bao nhãn hiệu YELLOW CRANE TOWER, 150 bao nhãn hiệu HUANGHELOU, 320 bao nhãn hiệu SHUANGXI, 90 bao nhãn hiệu DIAMOND (HEHUA), 10 bao nhãn hiệu YUNYAN, 290 bao nhãn hiệu HARMONIZATION và 100 bao loại vỏ cây thuốc màu trắng, mã vạch 6901028011785), mục đích để bán kiếm lời, bị Đội quản lý thị trường số A1 - Cục Quản lý thị trường tỉnh Q kiểm tra, phát hiện bắt, thu giữ vật chứng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Hải N đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm”, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là hoàn toàn khách quan, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Điều 190 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các Điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

b) Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao đến dưới 3.000 bao;”...

[4] Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: bị cáo Bùi Hải N là người đã trưởng thành nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo do hám lời, biết rõ việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền chi tiêu phục vụ cho bản thân nên đã cố tình buôn bán trái phép hàng cấm. Hành vi phạm tội của bị cáo là xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại và chính sách quản lý tiền tệ, hàng hóa của Nhà nước Việt Nam, đặc biệt tại vùng biên giới. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[5] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:

- Tình tiết tăng nặng: không.

- Tình tiết giảm nhẹ: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội tự nguyện khai và giao nộp lại một số hàng cấm cho cơ quan chức năng. Do đó, được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 4 Điều 190 Bộ luật Hình sự có thể phạt bị cáo một khoản tiền sung ngân sách Nhà nước. Nhưng xét bị cáo không có việc làm, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[7] Về xử lý vật chứng: đối với 1.285 bao thuốc lá điếu các loại hoàn lại sau giám định đã bị ẩm mốc, hư hỏng, không còn giá trị sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M đã ra Quyết định tiêu hủy. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

- Đối xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, màu sơn đen - trắng, biển số 14K1-060.97, quá trình điều tra xác định là của bà Nguyễn Thị T (là mẹ đẻ của N) cho N mượn, bà T không biết việc N sử dụng xe vào việc phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho bà T. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 Pro max, màu đen, số Imel 1 353891105511526, số Imel 2 353891105274745; bên trong lắp sim số 0332.378.869 và 0869.000.890. Quá trình điều tra và tại phiên tòa làm rõ N sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Đối với 02 sim điện thoại số số 0332.378.xxx và 0869000890; 01 (một) thùng bìa cát tông, kích thước (25x40x30)cm. Xét không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

Ngoài ra cần truy thu sung ngân sách Nhà nước của bị cáo số tiền 300.000 đồng do bán cho đối tượng D 01 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu HEHUA.

[8] Các tình tiết khác của vụ án: đối với hành vi mua, bán trái phép thuốc lá điếu của Bùi Hải N nhiều lần trước đó (theo lời khai của N), quá trình điều tra, không làm rõ được thời gian, số lượng, số tiền thu lợi bất chính và người mua, nên không đủ căn cứ để xử lý.

Người đàn ông tên B, T2, theo N khai là người đã bán thuốc lá điếu nhập lậu cho N; người đàn ông tên D, Hoàng A là người đã mua và giới thiệu người mua thuốc lá điếu nhập lậu của N, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M tiếp tục kiểm tra, xác minh làm rõ, xử lý sau.

Ông Bùi Hòa N1, bà Nguyễn Thị T (là bố mẹ đẻ của N) và chị Nguyễn Thị L (là vợ của N), đều không biết việc N cất giấu thuốc lá điếu để bán, nên không có căn cứ để xử lý.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu theo quy định.

[10] Quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Bùi Hải N 18 (mười tám) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày 10/7/2024.

- Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 Pro max, màu đen, số Imel 1 353891105511526, số Imel 2 353891105274745.

Tịch thu cho tiêu hủy 02 sim điện thoại số 0332.378.xxx và 0869.000.890; 01 (một) thùng bìa cát tông, kích thước (25x40x30)cm.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng số 85/2024/THA, ngày 08/10/2024 giữa Công an thành phố M và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái).

Buộc bị cáo Bùi Hải N phải nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), sung ngân sách Nhà nước.

- Về án phí và quyền kháng cáo: căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1, 4 Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Bùi Hải N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Quảng Ninh;

- VKSND tỉnh Quảng Ninh;

- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;

- VKSND thành phố Móng Cái;

- Cơ quan điều tra cùng cấp;

- Cơ quan Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an thành phố Móng Cái;

- Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

- Nhà tạm giữ Công an thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh;

- Chi cục THADS thành phố Móng Cái;

- Lưu án văn + Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Chí Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH về buôn bán hàng cấm (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 103/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm (Tội phạm Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt 18 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger