|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 103/2024/HSST
Ngày 22-10-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Quốc Đạt
Ông Nguyễn Quang Vinh
Thư ký phiên tòa: Ông Hà Quý Đôn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hiên - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tiến hành mở phiên tòa công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 96/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Thị S. Tên gọi khác: Không có. Giới tính: Nữ. Sinh năm 1979.
Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do;
Trình độ học vấn: 03/12; Họ và tên bố: Dương Văn Đ, sinh năm 1934 (đã chết); Họ và tên mẹ: Trần Thị B, sinh năm 1939; Gia đình có 08 anh chị em, bản thân là thứ tám; Họ và tên chồng: Nguyễn Tiến C, sinh năm 1973; Bị cáo có 05 con, con lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2014.
Nhân thân: Bản án số 35/2014/HSST ngày 12/3/2014 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt S 03 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. So chấp hành xong án phạt tù ngày 25/12/2019. Chấp hành xong khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm ngày 05/9/2017. Phần bồi thường dân sự đến nay bị hại không có đơn đề nghị thi hành án;
Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/7/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Dương Khắc M, sinh năm 1976 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Dương Khắc H, sinh năm 1999 (vắng mặt);
- Anh Nguyễn Văn S1, sinh năm 1995 (vắng mặt);
Địa chỉ: thôn Đại Giáp, xã Đại Lâm, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Dương Thị S và anh Dương Khắc M có mối quan hệ tình cảm với nhau. Từ tháng 5/2023 đến tháng 8/2023, S đến thuê trọ tại nhà anh M, do nhiều lần đi chơi với nhau, S xin tiền nhưng anh M không cho nên S đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản (tiền) của anh M. So biết anh M có ý định mua pháo hoa của Bộ Q về bán dịp tết nguyên đán nên đã nói dối với anh M là S quen chỗ bán loại pháo hoa giá rẻ chỉ cần đặt cọc tiền trước hoặc trả đủ tiền thì khuyến mại nhiều, tiện đi lấy hàng So sẽ lấy về cho. Từ tháng 9/2023 đến đầu tháng 10/2023, anh M đã nhiều lần chuyển tiền cho S để mua pháo cụ thể:
Lần 1: Ngày 11/9/2023, do tin tưởng S có thể mua được pháo nên anh M chuyển khoản 2.300.000 đồng cho S để đặt cọc mua 2 thùng pháo hoa Bộ Q.
Lần 2: Ngày 16/9/2023, anh M chuyển khoản 3.500.000 đồng cho S, để tiếp tục đặt cọc mua thêm 2 thùng pháo hoa Bộ Q.
Lần 3: Ngày 21/9/2023, S nói với anh M nếu mua 02 thùng pháo hoa Bộ Q (Loại 01 bệ 36 quả, một thùng 20 bệ giá 6.000.000 đồng/01 thùng) trả đủ tiền ngay sẽ được giảm giá 500.000 đồng. Anh M đồng ý mua chuyển khoản 11.500.000 đồng cho S để mua pháo.
Lần 4: Ngày 02/10/2023, S nói với anh M mua 6 thùng pháo hoa Bộ Q nếu trả đủ tiền thì được khuyến mại thêm 01 thùng (Loại pháo 01 bệ 32 quả, một thùng 20 bệ giá 5.000.000 đồng/thùng) và được giảm giá thêm 1.000.000 đồng. Anh M đồng ý mua và chuyển khoản 29.000.000 đồng cho S để mua pháo.
Lần 5: Ngày 04/10/2023, S nói với anh M tiếp tục có chương trình khuyến mãi nếu mua 6 thùng pháo hoa Bộ Q trả đủ tiền thì sẽ được khuyến mại thêm 2 thùng (Loại pháo 01 bệ 36 quả, một thùng giá 6.000.000 đồng). Anh M đồng ý mua và chuyển khoản 36.000.000 đồng cho của S để mua pháo.
Lần 6: Ngày 08/10/2023, S nói dối mẹ S chết, cần tiền làm đám tang cho mẹ và bảo anh M chuyển tiền cho S sau đó hứa hẹn sẽ trả anh M bằng pháo. Anh M đồng ý và chuyển khoản 7.000.000 đồng cho S.
Lần 7: Ngày 09/10/2023, S nói dối là cần tiền để S chuyển vong mẹ S lên chùa H1 và bảo anh M có tiền chuyển cho S, xong việc S sẽ trả anh M bằng P. Anh M đồng ý và chuyển khoản 6.500.000 đồng cho S.
Tổng cộng anh M đã chuyển cho S 95.800.000 đồng (Chín năm triệu tám trăm nghìn đồng) để đặt cọc và mua pháo hoa Bộ Q. Các lần anh M chuyển tiền đều nhờ con trai là Dương Khắc H chuyển cho S. H dùng tài khoản số 1014604362 đăng ký tại Ngân hàng V chuyển đến số tài khoản 0919699688888 đăng ký tại Ngân hàng M1 của Dương Thị S. Riêng lần thứ 6, S nhờ chuyển vào tài khoản 2266603091995 của Nguyễn Văn S1 đăng ký tại ngân hàng M1 là chủ cửa hàng kinh doanh vàng bạc để S đổi ra tiền mặt. Sau khi nhận được tiền S không làm như hứa hẹn không mua pháo cho anh M mà sử dụng số tiền của anh M để chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 05/5/2024, anh M đã làm đơn trình báo Cơ quan CSĐT Công an huyện L việc S lừa đảo chiếm đoạt tài sản của mình, ngày 04/7/2024, Cơ quan CSĐT, Công an huyện L đã bắt tạm giam đối với S, S tự nguyện giao nộp 01 điện thoại Nokia màu đen, 01 sim điện thoại số sim 89840488000303234494.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Dương Thị S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội Cáo trạng đã nêu.
Cáo trạng số 97/CT-VKS ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Dương Thị S về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt Dương Thị S từ từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam từ ngày 04/7/2024.
Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, tiền án phí hình sự, án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Nhất trí với lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát; bị cáo không tranh luận, không bào chữa cho mình; Lời nói sau cùng bị cáo không có ý kiến gì.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của những người được Tòa án triệu tập đến phiên tòa: Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai lưu tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra tại phiên tòa.
[2] Về căn cứ xác định hành vi của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Do cần tiền để chi tiêu cá nhân, từ tháng 9 năm 2023 đến đầu tháng 10 năm 2023, tại thôn Đ, xã Đ, huyện L, Dương Thị S dùng thủ đoạn gian dối, đưa ra nhiều thông tin không đúng sự thật về việc mua bán pháo hoa của Bộ Q chiếm đoạt số tiền 95.800.000 đồng của anh Dương Khắc M. Số tiền chiếm đoạt được của anh M, S đã chi tiêu cá nhân hết.
Hành vi của Dương Thị S đủ yếu tố cấu thành của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đủ tuổi, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự. Việc bị cáo bị truy tố, xét xử với tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo đưa ra các thông tin gian dối lợi dụng lòng tin của người khác để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhằm phục vụ cho bản thân. Bị cáo nhận thức được hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nêu trên. Do đó cần phải xử lý về hình sự để giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội đồng xét xử thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của anh Dương Khắc M 07 lần tiền nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Từ những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo nêu trên, HĐXX xét thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2014 bị Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt S 03 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nay lại tiếp tục phạm tội này, chứng tỏ bị cáo là người khó giáo dục cải tạo, nên cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, bắt bị cáo cách ly ra khỏi xã hội một thời gian cần thiết để giáo dục chung và phòng ngừa riêng.
Về hình phạt bổ sung bằng tiền: Do bị cáo không có việc làm và thu nhập, không có tài sản riêng, nên HĐXX miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo, để bị cáo yên tâm cải tạo sớm có điều kiện trở về làm ăn lương thiện.
Do bị cáo đang bị tạm giam nên HĐXX Quyết định tạm giam bị cáo theo quy định tại Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự để đảm bảo thi hành án.
[4] Về các nội dung khác có liên quan đến vụ án: Đối với anh Nguyễn Văn S1 không biết S nhờ tài khoản để rút tiền lừa đảo của anh M nên Cơ quan điều tra không đặt ra xem xét đối với anh S1 về hành vi đồng phạm với S là có căn cứ.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Anh Dương Khắc M yêu cầu bị cáo S phải trả lại số tiền 95.800.000 đồng (Chín năm triệu tám trăm nghìn đồng) đã chiếm đoạt của anh M. Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589; Điều 357; Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015. Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Dương Khắc M số tiền trên là phù hợp với quy định của pháp luật.
[6] Về vật chứng: Đối với 01 điện thoại Nokia màu đen và 01 sim điện thoại số sim 8984048800030323449 là của S dùng liên lạc với anh M để lừa đảo nay cần tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Dương Thị S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 4.790.000 đồng ( Bốn triệu, bẩy trăm chín mươi nghìn) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[9] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xử lý đối với hành vi phạm tội của bị cáo về tội danh, điều khoản, phân tích về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo, xử lý trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589; Điều 357; Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Xử phạt Dương Thị S 03 (ba) năm 10 (mười) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam từ ngày 04/7/2024.
Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Buộc bị cáo Dương Thị S phải bồi thường cho anh Dương Khắc M số tiền 95.800.000 đồng (Chín năm triệu tám trăm nghìn đồng).
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ số tiền phải thi hành án thì người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất 10%/năm quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước của Dương Thị S 01 điện thoại Nokia màu đen, 01 sim điện thoại số sim 89840488000303234494. (Theo quyết định chuyển vật chứng số 76/QĐ-VKS ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang và Biên bản về việc giao nhận vật chứng số 02 ngày 03 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang).
Buộc bị cáo Dương Thị S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 4.790.000 đồng (Bốn triệu, bẩy trăm chín mươi nghìn) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Quỳnh Hoa |
Bản án số 103/2024/HSST ngày 22/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG về hình sự sơ thẩm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 103/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Thị S
