Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN DƯƠNG

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 103/2024/HNGĐ-ST

Ngày 30-9-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Lý

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Văn Thư

Bà Bùi Thị Nhàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Trà My - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 101/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 78/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H; địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Phạm Văn T; địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Phạm Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 08, quyển số 01/2002, ngày 04/3/2002. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại thôn A, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, chị H và anh T phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống chung. Mâu thuẫn trầm trọng, không hoà giải được nên chị và anh T đã sống ly thân, không ai quan tâm ai. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phạm Văn T.

- Về con chung: Chị Phạm Thị H và anh Phạm Văn T có hai con chung là Phạm Thị H1 sinh năm 2003 và Phạm Bảo N sinh ngày 13/5/2009. Con chung Phạm Thị H1 đã trưởng thành, trên 18 tuổi và có đủ khả năng lao động nên chị H không đề nghị Toà án giải quyết việc nuôi con. Chị H đề nghị Tòa án giao con Phạm Bảo N cho chị trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Việc cấp dưỡng nuôi con, chị và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị Phạm Thị H không đề nghị Tòa án giải quyết.

Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Phạm Văn T trình bày:

Anh T xác nhận về thời điểm vợ chồng kết hôn và quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không còn tình cảm. Vợ chồng không còn tình cảm, anh đồng ý ly hôn chị H.

Về con chung: Anh và chị H có có hai con chung là Phạm Thị H1 sinh năm 2003 và Phạm Bảo N sinh ngày 13/5/2009. Con chung Phạm Thị H1 đã trưởng thành, trên 18 tuổi và có đủ khả năng lao động nên anh không đề nghị Toà án giải quyết việc nuôi con. Anh đồng ý để chị H trực tiếp nuôi con Phạm Bảo N cho đến khi con đủ 18 tuổi. Việc cấp dưỡng nuôi con, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, các điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử cho chị Phạm Thị H ly hôn anh Phạm Văn T. Về con chung: Chị H và anh T có 02 con chung là Phạm Thị H1 sinh năm 2003 và Phạm Bảo N sinh ngày 13/5/2009; con chung Phạm Thị H1 đã trưởng thành, trên 18 tuổi và có đủ khả năng lao động nên không xem xét giải quyết việc nuôi con; giao con Phạm Bảo N cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con và về tài sản chung, chị H và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết trong vụ án này. Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Phạm Thị H khởi kiện xin ly hôn bị đơn là anh Phạm Văn T đang cư trú tại Thôn A, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Dương theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị H và anh T vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ các điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt chị H và anh T.

[2]. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị H và anh Phạm Văn T đã được xác lập là hợp pháp (Giấy chứng nhận kết hôn số 08, quyển số 01/2002, ngày 04/3/2002). Căn cứ vào lời khai của đương sự, tài liệu điều tra xác minh đã xác định được mâu thuẫn vợ chồng có tồn tại làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Phạm Văn T.

[3]. Về con chung: Chị Phạm Thị H và anh Phạm Văn T có 02 con chung là Phạm Thị H1 sinh năm 2003 và Phạm Bảo N sinh ngày 13/5/2009. Con chung Phạm Thị H1 đã trưởng thành, trên 18 tuổi và có đủ khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết việc nuôi con. Đối với con chung Phạm Bảo N, để đảm bảo quyền lợi của con, đồng thời phù hợp với nguyện vọng của đương sự thì giao con cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với các Điều 81, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị H và anh T không yêu cầu Toà án giải quyết. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[4]. Về tài sản chung: Chị H và anh T không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết trong vụ án này.

[5]. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về hôn nhân: Chị Phạm Thị H được ly hôn anh Phạm Văn T.
  2. Về con chung: Chị Phạm Thị H và anh Phạm Văn T có hai con chung là Phạm Thị H1 sinh ngày 05/08/2003 và Phạm Bảo N sinh ngày 13/5/2009. Con chung Phạm Thị H1 đã trưởng thành, trên 18 tuổi và có đủ khả năng lao động nên không xem xét giải quyết việc nuôi con. Giao con Phạm Bảo N cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, có đủ khả năng lao động hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008536 ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Chị H đã nộp đủ án phí.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị H, anh Phạm Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện An Dương;
  • - Chi cục THADS huyện An Dương ;
  • - UBND xã An Hưng, huyện An Dương, Hải Phòng (Giấy chứng nhận kết hôn số 08, quyển số 01/2002, ngày 04/3/2002);
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hồng Lý

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 103/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị H ly hôn anh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger