Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2024/HNGĐ-ST

Ngày 30/9/2024

V/v “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Chí Công

Ông Nguyễn Thành Thái

Thư ký phiên tòa ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Thăng - Thư ký TAND huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành: Ông Nguyễn Thế Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 298/2024/TLST- HNGĐ ngày 17/7/2024, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2024/QĐXXST- HN, ngày 26/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 74/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12/9/2024 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Âu Thị H, sinh năm 1985.
  • Địa chỉ: A H, khu phố A, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
  • Bị đơn: Anh Trương Bảo A, sinh năm 1981.
  • Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang.

(Chị H mặt, anh A vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Âu Thị H trình bày như sau:

- Về hôn nhân: Chị và anh Trương Bảo A đi đến hôn nhân năm 2007; có tổ chức đám cưới theo phong tục, tập quán của địa phương. Đến ngày 12/3/2007, vợ chồng chị làm thủ tục đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị thường xuyên xảy ra cự cãi do bất đồng quan điểm dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Bản thân chị đã cố gắng duy trì cuộc hôn nhân cho các con có được gia đình hạnh phúc nhưng mâu thuẫn giữa anh chị vẫn không thể giải quyết. Anh chị đã sống ly thân khoảng 4 năm nay và anh A cũng không con tới lui chăm sóc gia đình. Nay, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Trương Bảo A.

- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Chị và anh Trương Bảo A có 02 con chung tên Trương Tuấn K, sinh ngày 14/02/2008 và Trương Tuấn P, sinh ngày 01/01/2012. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con; không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và về nợ chung: Chị xác nhận chị và anh A không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, chị không yêu cầu gì thêm.

* Bị đơn anh Trương Bảo A:

Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh A như Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật nhưng anh A không đến Tòa án nên không có lời khai.

* Tại phiên tòa:

- Chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Đại diện VKS phát biểu ý kiến:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Thời hạn chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử: Đúng thời hạn theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

+ Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Âu Thị H. Cho chị Âu Thị H được ly hôn với anh Trương Bảo A. Về con chung: Giao 02 con chung cho chị Âu Thị H tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung: Không xét.

Về án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Trương Bảo A là bị đơn trong vụ án đã được triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh A theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh A đi đến hôn nhân năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 12/3/2007 theo đúng quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận. Theo chị H trình bày: Trong quá trình chung sống, anh chị thường xuyên xảy ra cự cãi do bất đồng quan điểm dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị H yêu cầu xin ly hôn anh A. Xét thấy, yêu cầu của chị là có cơ sở chấp nhận. Vì theo như lời trình bày của chị H thì chị và anh A đã ly thân hơn 04 năm nay, anh chị không ai còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau cũng như những nghĩa vụ sống chung với nhau, không có biện pháp nào để hàn gắn cuộc sống gia đình. Tại phiên tòa hôm nay, chị H vẫn cương quyết xin ly hôn với anh A. Đối với Anh A, Tòa án đã tiến hành hòa giải 02 lần nhưng anh A không tham dự cũng không có ý kiến gì đối với lời trình bày của Chị H và tại phiên tòa hôm nay anh A vẫn không tham dự. Từ đó, có căn cứ cho rằng hôn nhân giữa chị H và anh A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H.

- Về con chung: Chị H và anh Trương Bảo A có 02 con chung tên Trương Tuấn K, sinh ngày 14/02/2008 và Trương Tuấn P, sinh ngày 01/01/2012. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con. Xét thấy tại bản ghi nhận ý kiến của 02 cháu K và P ngày 28/8/2024 (BL 29, 30) thì cháu cả 02 cháu đều khai nhận: hiện nay đang sống cùng với mẹ và có nguyện vọng sống chung với mẹ là Chị H. Tại phiên tòa hôm nay, Chị H cũng yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng dưỡng 02 người con chung vì hiện nay 02 con đang do chị chăm sóc, nuôi dưỡng. Phía anh A cũng không có ý kiến hay tranh chấp gì. Do đó, cần giao 02 con chung tên Trương Tuấn K, sinh ngày 14/02/2008 và Trương Tuấn P, sinh ngày 01/01/2012 cho Chị H tiếp tục nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp. Trong thời gian Chị H nuôi dưỡng 02 con chung thì anh A được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung và về nợ chung: Chị H xác nhận chị và anh A không có nên không yêu cầu. Do đó HĐXX xem xét giải quyết.

[3] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Âu Thị H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ các Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Âu Thị H.

  1. Về hôn nhân: Chị Âu Thị H được ly hôn với anh Trương Bảo A
  2. Về con chung: Giao 02 chung tên Trương Tuấn K, sinh ngày 14/02/2008 và Trương Tuấn P, sinh ngày 01/01/2012 cho chị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Trương Bảo A được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung: Không xét.
  4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị Âu Thị H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được đối trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005435 ngày 27 tháng 6 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang (chị H đã nộp xong).
  5. Quyền kháng cáo: Chị Âu Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trương Bảo A có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND cùng cấp;
  • - UBND xã;
  • - CCTHADS;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Thanh Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang về tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 103/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn và nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger