TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 103/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26/9/2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huế.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Hướng và ông Trần Văn Lương.
-Thư ký phiên toà: Ông Lê Đình Tứ, Thư ký Toà án nhân dân thị xã Hương Trà.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà tham gia phiên toà: Ông Trần Quốc Đại, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Trà (số E đường Đ, phường T, thị xã H) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 38/2024/TLST-HNGĐ ngày 25/4/2024; Về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐST- HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/QĐST- HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Ngọc L, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn T, xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
Bị đơn: Ông Lê Ngọc A, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn T, xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 10/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là bà Đặng Thị Ngọc L đều trình bày:
Bà và ông Lê Ngọc A đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, thị xã H vào ngày 12/4/1984. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau hạnh phúc được một thời gian, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông A hay ghen tuông vô cớ, về nhà nhậu nhẹt, gây gổ, đánh đập bà làm cho tinh thần bà hoảng loạn, luôn lo lắng bất an, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên vợ chồng bà đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay, không quan tâm gì đến nhau nữa. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà khởi kiện xin ly hôn ông A để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Bà L khai bà và ông A có 05 con chung là Lê Thị Ngọc Á, sinh ngày 19/5/1985, Lê Ngọc T, sinh ngày 03/02/1988, Lê L1, sinh ngày 16/4/1990, Lê Thị Kim Y, sinh ngày 16/01/1994 và Lê Thị Thu Đ, sinh ngày 08/11/1998, hiện tất cả các con đều đã thành niên nên việc ở với ai là quyền của các con. Riêng đối với anh Lê L1 tuy đã thành niên nhưng bị khuyết tật mức độ đặc biệt nặng, bà L có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng anh L1 và không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Ngọc A không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án, không đến Toà án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải. Tại phiên toà, ông A vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Tại bản tự khai ngày 23 tháng 8 năm 2024, chị Lê Thị Kim Y (là con gái của ông A bà L) trình bày: Qúa trình chung sống, từ nhỏ tôi đã chứng kiến bố bạo hành mẹ chỉ vì ghen tuông vô cớ. Nhiều lần anh chị em chúng tôi cố gắng hòa giải nhưng bản tính bố tôi vẫn không thay đổi. Nay mẹ tôi xin ly hôn bố tôi thì đề nghị Toà án giải quyết cho mẹ tôi được ly hôn để mẹ tôi khỏi phải chịu cảnh bạo lực gia đình. Bố mẹ tôi có tất cả 05 người con, trong đó có anh Lê L1 bị tàn tật diện đặc biệt nặng, hiện chủ yếu đang do mẹ tôi chăm sóc. Đề nghị Tòa án dành quyền trực tiếp nuôi anh L1 cho mẹ tôi để tiện việc chăm sóc cho anh.
Tại biên bản xác minh ngày 05/7/2024 tại UBND xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế thể hiện: “ Quá trình chung sống, vợ chồng ông A và bà L có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, không tôn trọng nhau...”.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xin ly hôn ông A, được trực tiếp nuôi dưỡng con chung bị khuyết tật và không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con.
Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà có ý kiến:
[1] Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- Quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Quyền và nghĩa vụ của bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử chưa thực hiện đúng các quy định tại khoản 16 Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Đặng Thị Ngọc L.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị Ngọc L được ly hôn ông Lê Ngọc A.
Về con chung: Giao anh Lê L1, sinh ngày 16/4/1990 cho bà Đặng Thị Ngọc L tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi có sự thay đổi khác.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Do bà L không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Buộc bà L phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Đặng Thị Ngọc L khởi kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông Lê Ngọc A. Ông A có nơi cư trú tại: Thôn T, xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Do đó, Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông A đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông A.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Ngọc A và bà Đặng Thị Ngọc L có quá trình chung sống với nhau, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, thị xã H vào ngày 11/9/2014 (số 03, năm 1984). Như vậy, hôn nhân giữa ông A và bà L là hợp pháp.
[2.2] Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Đặng Thị Ngọc L, Hội đồng xét xử xét thấy:
Quá trình bà L và ông A chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp tính nhau, ông A có biểu hiện ghen tuông vô cớ, không còn chung sống từ năm 2023 cho đến nay là phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Toà án đã nhiều lần tống đạt giấy triệu tập, nhưng ông A không đến Toà án để làm việc, hòa giải và không tham gia xét xử tại phiên tòa, không liên lạc với bà L là có thái độ bỏ mặc, không có thiện chí mong muốn để hòa giải đoàn tụ gia đình, thể hiện việc không quan tâm đến gia đình và không còn tình nghĩa vợ chồng.
Xét thấy hôn nhân giữa ông A và bà L đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân không còn tồn tại trên thực tế, nên Hội đồng xét xử cần áp dụng điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận đơn của bà L, cho bà L được ly hôn ông A.
[2.3] Về con chung: Bà L và ông A có 05 con chung là Lê Thị Ngọc Á, sinh ngày 19/5/1985, Lê Ngọc T, sinh ngày 03/02/1988, Lê L1, sinh ngày 16/4/1990, Lê Thị Kim Y, sinh ngày 16/01/1994 và Lê Thị Thu Đ, sinh ngày 08/11/1998. Hiện tất cả các con đều đã thành niên. Tuy nhiên, do anh Lê L1 bị khuyết tật nặng nên bà L có yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Xét yêu cầu nuôi anh L1 sau khi ly hôn của bà L, Hội đồng xét xử thấy rằng: mặc dù anh L1 đã thành niên nhưng lại bị khuyết tật mức độ đặc biệt nặng, sống phụ thuộc không có khả năng tự chăm sóc bản thân, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi bản thân mình, đồng thời bà L là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng anh L1 từ khi sinh ra cho đến nay. Do đó, cần giao anh L1 cho bà L được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh khách quan nhằm đảm bảo quyền lợi mọi mặt và sự phát triển bình thường của anh L1.
Đối với các con chung khác của Bà L và ông A hiện đã trưởng thành, không có ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn: Do bà L không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Ông A chưa thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
[2.5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.6] Về án phí: Bà L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là bà Đặng Thị Ngọc L đối với ông Lê Ngọc A về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Bà Đặng Thị Ngọc L được ly hôn ông Lê Ngọc A.
2. Về con chung: Giao con chung là anh Lê L1, sinh ngày 16/4/1990 cho bà Đặng Thị Ngọc L tiếp tục trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi có sự thay đổi khác.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở.
Ông A chưa thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2004; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Bà L phải chịu án phí ly hôn 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu số 1605 ngày 25/4/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Trà. Bà L đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Huế |
Bản án số 103/2024/HNGĐ-ST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 103/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
