|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
1
Bản án số: 103/2024/HS-ST
Ngày 26/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Ánh
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thế Dũng và bà Lê Thị Thảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy P - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 99/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/QĐXXST-HS ngày 13/9/2024, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Quang T; Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 16/11/1987; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Số D N, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; Nơi ở hiện nay: tổ dân phố I, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Họ và tên bố: Nguyễn Minh T1, sinh năm 1961; Họ và tên mẹ: Lê Thị Thanh T2, sinh năm 1963; Vợ: Cao Thúy N, sinh năm 1988; Con: có 02 người, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2015; Anh, chị, em ruột: Không, bị cáo là con duy nhất trong gia đình;
- Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường Đ, thành phố T - Có mặt tại phiên tòa;
2. Trần Văn T3; Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 06/7/1981; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Tổ A, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Họ và tên bố: Trần Thế V, sinh năm 1941; Họ và tên mẹ: Trần Thị M, sinh năm 1951; Vợ: Phạm Thị Trang N1, sinh năm 1992; Con: có 01 người sinh năm 2011; Anh, chị, em ruột: 04 anh em, bị cáo là con thứ 2;
- Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
2
Bị cáo đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường A, thành phố T - Có mặt tại phiên tòa;
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Phạm Hồng S, sinh năm 1985;
Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; (Vắng mặt tại phiên tòa – Có đơn xin xét xử vắng mặt); - Anh Phạm Xuân T4, sinh năm 1988;
Nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; (Vắng mặt tại phiên tòa – Có đơn xin xét xử vắng mặt); - Anh Ban Văn T5, sinh năm 1994;
Nơi cư trú: Tổ dân phố E, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; (Vắng mặt tại phiên tòa – Có đơn xin xét xử vắng mặt); - Anh Phạm Ngọc A, sinh năm 1998;
Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; (Vắng mặt tại phiên tòa – Có đơn xin xét xử vắng mặt); - Anh Tạ Bá T6, sinh năm 1989;
Nơi cư trú: Tổ dân phố E, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; (Vắng mặt tại phiên tòa – Có đơn xin xét xử vắng mặt); - Anh Hoàng Minh H, sinh năm 1996;
Nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; (Vắng mặt tại phiên tòa – Có đơn xin xét xử vắng mặt); - Anh Nguyễn Hữu T7, sinh năm 1987;
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; (Vắng mặt tại phiên tòa – Có đơn xin xét xử vắng mặt); - Anh Ban Văn Đ, sinh năm 1992;
Nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; (Vắng mặt tại phiên tòa – Có đơn xin xét xử vắng mặt); - Anh Âu Văn H1, sinh năm 1982;
Nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; (Vắng mặt tại phiên tòa – Có đơn xin xét xử vắng mặt); - Anh Tô Văn H2, sinh năm 1989;
Nơi cư trú: Tổ dân phố F, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; (Vắng mặt tại phiên tòa – Có đơn xin xét xử vắng mặt); - Anh Trần Văn C, sinh năm 1991;
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; (Vắng mặt tại phiên tòa – Có đơn xin xét xử vắng mặt); - Anh Trần Văn N2, sinh năm 1975;
Nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; (Vắng mặt tại phiên tòa – Có đơn xin xét xử vắng mặt);
3
- Anh Cáp Văn S1, sinh năm 1993;
Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; (Vắng mặt tại phiên tòa – Có đơn xin xét xử vắng mặt); - Anh Cao Khắc Đ1, sinh năm 1998;
Nơi cư trú: Thôn H xã T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; (Vắng mặt tại phiên tòa – Có đơn xin xét xử vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu năm 2019, Nguyễn Quang T, nơi đăng ký thường trú: số D, Nguyễn Tường L, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay tổ dân phố I, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang thuê một căn nhà tại tổ dân phố D, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang của anh Hà Văn C1 (trú tại địa chỉ trên) để mở cửa hàng kinh doanh dịch vụ trao đổi, mua bán xe máy. Do kinh doanh không hiệu quả, thu nhập thấp nên T nảy sinh ý định cho vay tiền với lãi suất cao từ 3.000 đồng đến 5.000 đồng/ 01 triệu/ ngày để thu lợi. T thuê Trần Văn T3, trú tại tổ dân phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang quản lý tại cửa hàng và trực tiếp cho khách vay tiền. Khi T không có mặt tại cửa hàng thì T3 sẽ gọi điện báo cho T các trường hợp khách vay tiền để T chỉ đạo việc cho vay, lãi suất, sau đó T3 sẽ trực tiếp thỏa thuận, cho khách vay tiền và đôn đốc, thu tiền gốc, tiền lãi của khách hàng và chuyển lại cho T. Hàng tháng, T trả tiền công cho T3 là 3.000.000 đồng.
Từ năm 2019 đến năm 2022, tại thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, Nguyễn Quang T, Trần Văn T3 đã cho 14 người vay tiền tiền với lãi suất từ 3.000 đồng đến 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất từ 109,5% đến 182,5%/ năm, gấp từ 5,475 lần đến 9,125 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự (20%/01 năm), mục đích để thu lợi nhuận, cụ thể như sau:
- Cho anh Phạm Hồng S, trú tại tổ dân phố B, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang vay 01 lần:
Ngày 05/5/2019, Nguyễn Quang T cho anh Phạm Hồng S vay số tiền 30.000.000 đồng, là 3.000 đồng/01 triệu /01 ngày tương ứng với mức lãi suất 109,5%/năm gấp 5,475 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, thỏa thuận 30 ngày trả lãi một lần số tiền lãi 2.700.000 đồng. S viết 01 giấy vay tiền đưa cho T. Từ 05/5/2019 đến ngày 07/10/2019, anh S đã chuyển tiền lãi 05 lần vào tài khoản V1 số [...] của T3, mỗi lần chuyển 2.700.000 đồng, tổng đã chuyển 13.500.000 đồng tiền lãi (chuyển tiền vào các ngày 15/6/2019, 04/7/2019, 28/7/2019, 06/9/2019, 07/10/2019). Sau ngày 31/10/2019, anh S xin không trả lãi cho T thì T nhất trí (lúc này S còn nợ T số tiền lãi 30 ngày là 2.700.000 đồng). Ngày 07/12/2019, anh S chuyển khoản vào tài khoản V1 số [...] của T3 số tiền lãi 2.700.000 đồng. Đến ngày 01/01/2020, anh S trả hết số tiền nợ gốc 30.000.000 đồng cho T. - Cho anh Phạm Xuân T4, trú tại tổ dân phố D, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang vay 01 lần:
Ngày 20/6/2019, Nguyễn Quang T chỉ đạo Trần Văn T3 cho anh Phạm Xuân T4 vay số tiền 3.000.000 đồng, với lãi suất là 3.000 đồng/01 triệu /01 ngày tương ứng với mức lãi suất 109,5%/ năm, gấp 5,475 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, anh T4 để lại giấy đăng ký xe và viết 01 giấy vay tiền đưa cho T để làm tin. Đến ngày 21/3/2020, anh T4 trả hết 3.000.000 đồng tiền gốc và trả tiền lãi 275 ngày cho T3 số tiền là 2.475.000 đồng, trong đó: tiền lãi theo quy định là 452.055 đồng, số tiền thu lời bất chính là 2.022.945 đồng. - Cho anh Ban Văn T5, trú tại tổ dân phố E, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang vay 01 lần:
Ngày 17/8/2019, Nguyễn Quang T chỉ đạo Trần Văn T3 cho anh Ban Văn T5 vay số tiền 5.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, thỏa thuận 30 ngày trả tiền lãi một lần, số tiền 750.000 đồng. Anh T5 viết 01 giấy vay tiền và đưa giấy phép lái xe cho T3 giữ. Đến ngày 21/12/2019, anh T5 trả hết nợ gốc 5.000.000 đồng và trả lãi 126 ngày cho T3, số tiền là 3.150.000 đồng, trong đó: tiền lãi theo quy định là 245.205 đồng, số tiền thu lời bất chính là 2.804.795 đồng. - Cho anh Phạm Ngọc A, trú tại tổ dân phố A, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang vay 02 lần:
Lần 1: Ngày 11/11/2019, Nguyễn Quang T chỉ đạo Trần Văn T3 cho anh Phạm Ngọc A vay số tiền 5.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự. T viết 01 giấy vay tiền và đưa chứng minh nhân dân cho T3 giữ.
Lần 2: Đến ngày 14/11/2019, Nguyễn Quang T chỉ đạo Trần Văn T3 cho anh Ngọc A vay thêm số tiền 1.000.000 đồng, tổng số tiền vay là 6.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,125 lần mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự. Tính lãi bắt đầu từ ngày 14/11/2019 (không tính lãi của khoản vay 5.000.000 đồng từ ngày 11 đến ngày 13/11/2019), thỏa thuận 30 ngày trả lãi một lần số tiền 900.000 đồng.
Đến ngày 20/5/2020, anh Ngọc A trả hết nợ gốc 6.000.000 đồng, trả lãi 188 ngày cho T3 số tiền là 5.640.000 đồng, trong đó: tiền lãi theo quy định là 618.082 đồng, số tiền thu lời bất chính là 5.021.918 đồng. - Cho anh Tạ Bá T6, trú tại tổ dân phố E, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang vay tiền 02 lần:
Lần 1: Ngày 26/11/2019, Nguyễn Quang T cho anh Tạ Bá T6 vay số tiền 2.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 3.000 đồng/01 triệu /01 ngày tương ứng với mức lãi suất 109,5%/ năm, gấp 5,475 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự. Anh T6 viết 01 giấy vay tiền và đưa Giấy đăng ký xe, Chứng minh nhân dân cho T giữ. - Cho anh Hoàng Minh H, trú tại tổ dân phố D, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang vay 02 lần:
Lần 1: Ngày 28/12/2019, Nguyễn Quang T chỉ đạo Trần Văn T3 cho anh Hoàng Minh H vay số tiền 6.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 3.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất 109,5%/ năm, gấp 5,475 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, tính 30 ngày trả tiền lãi một lần là 540.000 đồng. Anh H viết 01 giấy vay tiền và đưa giấy đăng ký xe môtô cho T3 giữ. Đến ngày 01/4/2022, anh H trả số tiền gốc 6.000.000 đồng và trả tiền lãi 825 ngày cho T3 là 14.850.000 đồng, trong đó: tiền lãi theo quy định là 2.712.329 đồng, số tiền thu lời bất chính là 12.137.671 đồng.
Lần 2: Ngày 08/06/2020, Nguyễn Quang T chỉ đạo Trần Văn T3 cho anh H vay số tiền 2.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 3.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất từ 109,5%/năm, gấp 5,475 lần mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự, anh H để lại đăng ký xe để làm tin. Theo thỏa thuận, 30 ngày H phải trả tiền lãi một lần, số tiền 180.000 đồng. Ngày 01/4/2022, anh H trả số tiền gốc 2.000.000 đồng, trả tiền lãi 662 ngày cho T3 là 3.972.000 đồng, trong đó: tiền lãi theo quy định là 725.479 đồng, số tiền thu trái pháp luật là 3.246.521 đồng.
Như vậy, tổng số tiền T, T3 cho H vay 02 lần là 8.000.000 đồng, thu tổng số tiền lãi là 18.822.000 đồng, trong đó: số tiền lãi theo quy định là 3.437.808 đồng, số tiền thu lời bất chính là 15.384.192 đồng. - Cho anh Nguyễn Hữu T7, trú tại thôn Đ, xã T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang vay 01 lần:
Ngày 15/01/2020, Nguyễn Quang T chỉ đạo Trần Văn T3 cho anh T7 vay số tiền 3.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất 182,5%/ năm, gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, thỏa thuận 30 ngày trả lãi một lần là 450.000 đồng. T7 viết 01 giấy vay tiền và đưa chứng minh nhân dân cho T3 giữ. Đến ngày 28/7/2020, anh T7 trả 3.000.000 đồng tiền gốc và trả tiền lãi 195 ngày cho T3 là 2.925.000 đồng, trong đó: tiền lãi theo quy định là 320.548 đồng, số tiền thu lời bất chính là 2.604.452 đồng. - Cho anh Ban Văn Đ, trú tại tổ dân phố D, phường Đ, thành phố T vay 01 lần:
Ngày 15/01/2020, Nguyễn Quang T chỉ đạo Trần Văn T3 cho anh Đ vay số tiền 5.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, Đ để lại chứng minh nhân dân để làm tin. Theo thỏa thuận, 30 ngày Đ phải trả lãi một lần, số tiền 750.000 đồng. Đến ngày 16/9/2020, anh Đ trả hết 5.000.000 đồng tiền gốc và trả tiền lãi 245 ngày là 6.125.000 đồng, trong đó: tiền lãi theo quy định là 671.233 đồng, số tiền thu lời bất chính là 5.453.767 đồng. - Cho anh Âu Văn H1, trú tại tổ dân phố F, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang vay 01 lần:
Ngày 18/02/2020, Nguyễn Quang T chỉ đạo Trần Văn T3 cho anh H1 vay số tiền 4.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, thỏa thuận 30 ngày trả lãi một lần là 600.000 đồng. Anh H1 viết 01 giấy vay tiền và đưa chứng minh nhân dân cho T3 giữ. Đến ngày 02/9/2020, anh H1 trả hết 4.000.000 đồng tiền gốc cho T3 và trả tiền lãi 197 ngày là 3.940.000 đồng, trong đó: tiền lãi theo quy định là 431.781 đồng, số tiền thu lời bất chính là 3.508.219 đồng. - Cho anh Tô Văn H2, trú tại tổ dân phố F, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang vay 01 lần:
Ngày 29/02/2020, Nguyễn Quang T chỉ đạo Trần Văn T3 cho anh H2 vay số tiền 4.000.000 đồng với lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, thỏa thuận 10 ngày trả lãi một lần số tiền 200.000 đồng. Anh H2 viết 01 giấy vay tiền và đưa thẻ ATM cho T3 giữ. Ngày 18/6/2020, anh H2 trả hết 4.000.000 đồng tiền gốc cho T3 và trả tiền lãi 110 ngày số tiền là 2.200.000 đồng, trong đó tiền lãi tối đa theo quy định là 241.096 đồng, số tiền T và T3 thu lời bất chính là 1.958.904 đồng. - Cho anh Trần Văn C, trú tại thôn Đ, xã C, huyện S, tỉnh Tuyên Quang vay 03 lần:
Lần 1: Ngày 04/3/2020, Nguyễn Quang T chỉ đạo Trần Văn T3 cho anh C vay 5.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất là 3.000 đồng/01 triệu/01 ngày tương ứng với mức lãi suất từ 109,5%/năm, gấp 5,475 lần mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự, thoả thuận 10 ngày trả lãi một lần số tiền 150.000 đồng. Ngày 16/7/2020, anh C trả hết 5.000.000 đồng tiền gốc cho T3 và trả tiền lãi 134 ngày, số tiền là 2.010.000 đồng, trong đó: tiền lãi theo quy định là 367.123 đồng, số tiền thu lời bất chính là 1.642.877 đồng.
Lần 2: Ngày 07/3/2020, Nguyễn Quang T chỉ đạo Trần Văn T3 cho anh C vay 5.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất là 3.000 đồng/01 triệu/01 ngày tương ứng với mức lãi suất từ 109,5%/năm, gấp 5,475 lần mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự. Đến ngày 16/7/2020, anh C trả 5.000.000 đồng tiền gốc cho T3 và trả lãi 131 ngày, số tiền là 1.965.000 đồng, trong đó: tiền lãi theo quy định là 358.904 đồng, số tiền thu lời bất chính là 1.606.096 đồng.
Lần 3: Ngày 17/7/2020, Nguyễn Quang T chỉ đạo Trần Văn T3 cho anh C vay 10.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất là 3.000 đồng/01 triệu /01 ngày, tương ứng với mức lãi suất từ 109,5%/năm, gấp 5,475 lần mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự, thoả thuận 10 ngày trả lãi một lần số tiền 300.000 đồng. Đến ngày 19/9/2020, anh C trả 10.000.000 đồng tiền gốc cho T3 và trả tiền lãi 64 ngày, số tiền là 1.920.000 đồng, - Cho anh Trần Văn N2, trú tại tổ dân phố D, phường Đ, thành phố T vay tiền 05 lần:
Lần 1: Ngày 04/3/2020, Nguyễn Quang T cho anh N2 vay 10.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 3.000 đồng/01 triệu /01 ngày, tương ứng với mức lãi suất từ 109,5%/năm, gấp 5,475 lần mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự. Anh N2 để lại giấy phép lái xe, giấy đăng ký xe mô tô để làm tin. Ngày 11/3/2020, anh N2 trả 10.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi cho T từ ngày 04/3/2020 đến ngày 11/3/2020 (07 ngày) số tiền là 210.000 đồng, trong đó: tiền lãi theo quy định là 38.356 đồng, số tiền thu lời bất chính là 171.644 đồng.
Lần 2: Ngày 19/3/2020, T cho anh N2 vay 10.000.000 đồng, thoả thuận lãi suất 3.000 đồng/01 triệu /01 ngày, tương ứng với mức lãi suất từ 109,5%/năm, gấp 5,475 lần mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự. Anh N2 để lại giấy đăng ký xe mô tô để làm tin. Ngày 31/3/2020, anh N2 trả 10.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi cho T (từ ngày 19/3/2020 đến ngày 31/3/2020 là 12 ngày) số tiền là 360.000 đồng, trong đó: tiền lãi theo quy định là 65.753 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 294.247 đồng.
Lần 3: Ngày 01/4/2020, T cho anh N2 vay 10.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất là 3.000 đồng/01 triệu /01 ngày, tương ứng với mức lãi suất từ 109,5%/năm, gấp 5,475 lần mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự. Anh N2 để lại giấy đăng ký xe mô tô để làm tin và viết 01 giấy vay tiền theo mẫu in sẵn đưa cho T giữ. Đến ngày 12/4/2020, anh N2 trả 10.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi cho T (từ ngày 01/4/2020 đến ngày 12/4/2020 là 11 ngày) số tiền là 330.000 đồng, trong đó: tiền lãi theo quy định là 60.274 đồng, số tiền thu lời bất chính là 269.726 đồng.
Lần 4: Ngày 14/4/2020, T cho anh N2 vay 10.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất là 3.000 đồng/01 triệu /01 ngày, tương ứng với mức lãi suất từ 109,5%/năm, gấp 5,475 lần mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự. Anh N2 để lại giấy đăng ký xe mô tô để làm tin và viết 01 giấy vay tiền theo mẫu in sẵn đưa cho T giữ. Ngày 30/4/2020, anh N2 trả 10.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi cho T (từ ngày 14/4/2020 đến ngày 30/4/2020 là 16 ngày) số tiền là 480.000 đồng, trong đó: tiền lãi theo quy định là 87.671 đồng, số tiền thu lời bất chính là 392.329 đồng.
Lần 5: Ngày 03/5/2020, T cho anh N2 vay 10.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất là 3.000 đồng/01 triệu /01 ngày, tương ứng với mức lãi suất 109,5%/năm, gấp 5,475 lần mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự, 10 ngày trả lãi một lần số tiền 300.000 đồng. Anh N2 để lại giấy đăng ký xe mô tô để làm tin và viết 01 giấy vay tiền theo mẫu in sẵn đưa cho T giữ. Đến ngày 19/8/2020, anh N2 trả 10.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi 108 ngày số tiền là 3.240.000 đồng, trong đó: tiền lãi tối đa theo quy định là 591.781 đồng, số tiền thu lời bất chính là 2.648.219 đồng.
Đối với các khoản T cho anh N2 vay, T3 giúp T ghi lại thông tin khách vay vào sổ theo dõi và đôn đốc việc trả lãi theo thỏa thuận. - Cho anh Cáp Văn S1, trú tại tổ dân phố A, phường Đ, thành phố T vay 01 lần:
Ngày 05/3/2020, Nguyễn Quang T chỉ đạo Trần Văn T3 cho anh S1 vay số tiền 10.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất là 3.000 đồng/01 triệu /01 ngày, tương ứng với mức lãi suất từ 109,5%/năm, gấp 5,475 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, thỏa thuận 10 ngày trả lãi một lần, số tiền 300.000 đồng. Ngày 10/6/2020, anh S1 trả 10.000.000 đồng tiền gốc cho T3 và trả tiền lãi 97 ngày số tiền là 2.910.000 đồng, trong đó: tiền lãi theo quy định là 531.507 đồng, số tiền thu lời bất chính là 2.378.493 đồng. - Cho anh Cao Khắc Đ1, trú tại thôn H, xã T, thành phố T vay tiền 02 lần:
Lần 1: Ngày 24/6/2020, Nguyễn Quang T chỉ đạo Trần Văn T3 cho anh Đ1 vay 3.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất là 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, thỏa thuận trả gốc, lãi sau 30 ngày. Anh Đ1 đưa chứng minh nhân dân và viết 01 giấy vay tiền đưa cho T3 giữ. Đến ngày 24/7/2020, anh Đ1 trả 3.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi (30 ngày) cho T3 số tiền là 450.000 đồng, trong đó: tiền lãi theo quy định là 49.315 đồng, số tiền thu trái pháp luật là 400.685 đồng.
Lần 2: Ngày 24/7/2020, Nguyễn Quang T chỉ đạo Trần Văn T3 cho anh Đ1 vay 15.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất là 3.000 đồng/01 triệu /01 ngày, tương ứng mức lãi suất 109,5%/năm, gấp 5,475 lần mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự, 10 ngày trả một lần với số tiền 450.000 đồng. Anh Đ1 đưa chứng minh nhân dân và viết 01 giấy vay tiền đưa cho T3 để làm tin. Ngày 10/9/2020, anh Đ1 trả 15.000.000 đồng tiền gốc và trả tiền lãi 48 ngày cho T3 số tiền là 2.160.000 đồng, trong đó: tiền lãi theo quy định là 394.521 đồng, số tiền thu lời bất chính là 1.765.479 đồng.
Tổng số tiền T và T3 cho anh Đ1 vay 02 lần là 18.000.000 đồng, thu tiền lãi là 2.610.000 đồng, trong đó: số tiền lãi theo quy định là 443.836 đồng, số tiền T và T3 thu lời bất chính là 2.166.164 đồng.
4
Như vậy, anh S trả lãi cho T và T3 từ ngày 05/5/2019 đến ngày 31/10/2019 (180 ngày) số tiền là 16.200.000 đồng, trong đó: tiền lãi theo quy định là 2.958.904 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 13.241.096 đồng.
5
Ngày 18/12/2019, anh T6 đến cửa hàng trả hết số tiền gốc 2.000.000 đồng và trả tiền lãi 22 ngày, số tiền là 132.000 đồng. Trong đó: tiền lãi theo quy định là 24.110 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 107.890 đồng.
Lần 2: Ngày 07/9/2020, Nguyễn Quang T cho anh Tạ Bá T6 vay số tiền 3.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 3.000 đồng/01 triệu /01 ngày tương ứng với mức lãi suất 109,5%/năm gấp 5,475 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự. Đến ngày 07/10/2020, anh T6 đã trả hết số tiền gốc 3.000.000 đồng cho T và trả số tiền lãi 30 ngày là 270.000 đồng, trong đó: tiền lãi theo quy định là 49.315 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 220.685 đồng.
Tổng số tiền T, T3 cho anh T6 vay 02 lần là 5.000.000 đồng. Số tiền lãi anh T6 trả cho T và T3 là 402.000 đồng, trong đó: số tiền lãi theo quy định là 73.425 đồng, số tiền thu lời bất chính là 328.575 đồng.
6
7
trong đó: tiền lãi theo quy định là 350.685 đồng, số tiền thu lời bất chính là 1.569.315 đồng.
Như vậy, tổng số tiền T và T3 cho C vay 03 lần là 20.000.000 đồng, thu số tiền lãi là 5.895.000 đồng, trong đó: số tiền lãi theo quy định là 1.076.712 đồng, số tiền thu lời bất chính là 4.818.288 đồng.
8
Như vậy, tổng số tiền T và T3 cho anh N2 vay 05 lần là 50.000.000 đồng, thu tiền lãi là 4.620.000 đồng, trong đó: số tiền lãi theo quy định là 843.835 đồng, số tiền thu lời bất chính là 3.776.165 đồng.
Như vậy: Từ ngày 05/5/2019 đến ngày 01/4/2022, Nguyễn Quang T và Trần Văn T3 cho 14 người vay tổng số tiền là 171.000.000 đồng, thu tổng số tiền lãi là 77.914.000 đồng, trong đó: số tiền lãi cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự là 12.446.027 đồng, số tiền thu trái pháp luật là 65.467.973 đồng (Sáu mươi năm triệu, bốn trăm sáu mươi bảy ngàn, chín trăm bảy mươi ba đồng).
Từ nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 100/CT-VKSTP ngày 05 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố các bị cáo Nguyễn Quang T; Trần Văn T3 về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1, Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Nguyễn Quang T; Trần Văn T3 về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1, Điều 201 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
9
Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm s, i khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt các bị cáo Nguyễn Quang T; Trần Văn T3 mỗi bị cáo từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo đã bị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo;
Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền các bị cáo Nguyễn Quang T, Trần Văn T3 thu lợi bất chính, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm anh Phạm Hồng S, anh Phạm Xuân T4, anh Ban Văn T5, anh Hoàng Minh H, anh Tạ Bá T6, anh Phạm Ngọc A, anh Nguyễn Hữu T7, anh Ban Văn Đ, anh Âu Văn H1, anh Tô Văn H2, anh Cáp Văn S1, anh Trần Văn C, anh Trần Văn N2, anh Cao Khắc Đ1 không yêu cầu, đề nghị nhận lại nên không xem xét xử lý.
- Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 46, 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS, đề nghị HĐXX tuyên:
+ Truy thu của bị cáo Nguyễn Quang T số tiền sử dụng để cho vay lãi nặng 171.000.000 đồng, và số tiền lãi cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự là 12.446.027 đồng (tiền do phạm tội mà có). Được trừ vào số tiền 60.000.000đồng bị cáo đã nộp.
+ Trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, vỏ màu tím, số Sê-ri FJ47203JCH, số máy: MQ8R3LL/A, bên trong lắp sim số thuê bao 0988.798.595, điện thoại cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Quang T, được niêm phong theo quy định; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu đen, số S-ri 4HKRLBT4VKSS558D, bên trong máy có lắp sim, số thuê bao 0985104383, trên mặt thẻ sim có dãy số 8984048000058118482, điện thoại cũ đã qua sử dụng của Trần Văn T3, được niêm phong theo quy định.
+ Trả lại cho chị Trần Thị Thu H3: 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Thị Thu H3, sinh ngày 27/12/1998; 01 (một) giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số đăng ký 22B2-552.68 mang tên chủ xe là Trần Thị Thu H3.
+ Trả lại cho anh Trần Văn C: 01 (một) giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số đăng ký 22S1-457.39, mang tên chủ xe là Trần Văn C, sinh năm 1991, thôn Đ, xã C, huyện S, Tuyên Quang.
+ Trả lại cho Ban Văn M1: 01 (một) phong bì giấy màu trắng, bên ngoài ghi chữ mực đen "BAN MÔN VỢ HỒNG", bên trong phong bì có 01 thẻ Căn cước công dân số [...] mang tên Ban Văn M1, sinh năm 1985, trú tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị HĐXX áp dụng điều 136, 331, 333 BLTTHS năm 2015 và Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí của Toà án buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo Nguyễn Quang T, Trần Văn T3 không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm anh Phạm Hồng S, anh Phạm Xuân T4, anh Ban Văn T5, anh Phạm Ngọc A, anh Hoàng Minh H, anh Tạ Bá T6, anh Nguyễn Hữu T7, anh Ban Văn Đ, anh Âu Văn H1, anh Tô Văn H2, anh Cáp Văn S1, anh Trần Văn C, anh Trần Văn N2, anh Cao Khắc Đ1 vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt, giữ nguyên ý kiến tại giai đoạn điều tra và không yêu cầu về phần dân sự.
10
Kết thúc phần tranh luận các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo Nguyễn Quang T, Trần Văn T3 nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Quang T và Trần Văn T3 tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung của các bị cáo về quá trình thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án là những người đã vay tiền với các bị cáo và nộp dung ghi chép trong các giấy tờ, sổ theo dõi đã thu giữ và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 05/5/2019 đến ngày 01/4/2022, tại thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, Nguyễn Quang T, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số D N, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay tổ dân phố I, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang và Trần Văn T3, trú tại tổ dân phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang đã cho 14 người vay tiền, tổng số tiền cho vay là 171.000.000 đồng với lãi suất từ 3.000 đồng đến 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tương đương mức lãi suất từ 109,5% đến 182,5%/01 năm, gấp từ 5,475 lần đến 9,125 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự (20%/01 năm). Tổng số tiền lãi các bị cáo T và T3 đã thu là 77.914.000 đồng, trong đó: số tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự là là 12.446.027 đồng, số tiền thu lời bất chính là 65.467.973 đồng (Sáu mươi năm triệu, bốn trăm sáu mươi bảy ngàn, chín trăm bảy mươi ba đồng).
Do vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố các bị cáo Nguyễn Quang T, Trần Văn T3 về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1, Điều 201 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3]. Về Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, tiền tệ của nhà nước trong lĩnh vực tài chính,
11
ngân hàng, không những xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mà còn ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội. Các bị cáo có nhận thức, đã biết được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo Nguyễn Quang T và Trần Văn T3 đồng phạm trong việc thực hiện tội phạm, hình thức đồng phạm giản đơn không có sự câu kết chặt chẽ giữa các bị cáo. Nguyễn Quang T là người chủ mưu, chỉ đạo T3 thực hiện hành vi cho vay lãi nặng, T là người quyết định mức lãi suất cho vay, chi số tiền gốc để cho vay lãi và hưởng toàn bộ số tiền lãi thu được. Trần Văn T3 trước đó được T thuê để trông coi cửa hàng mua bán xe máy, sau đó đã giúp sức cho T thực hiện hành vi phạm tội, cụ thể: khi có người đến vay tiền, T3 điện thoại thông báo cho T và cho vay tiền theo sự chỉ đạo của T, T3 ghi chép theo dõi việc cho vay tiền và đôn đốc thu tiền lãi, tiền gốc rồi chuyển lại cho T.
[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quy định tại điểm i, điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngày 25/9/2024, bị cáo Nguyễn Quang T đã tự nguyện nộp số tiền 60.000.000 đồng để truy thu số tiền gốc bị cáo dùng để cho vay lãi nặng; Bị cáo Nguyễn Quang T là lao động chính trong gia đình, hiện đang bị u tuyến giáp nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo. Bên cạnh đó các bị cáo phạm tội vì mục đích tư lợi nên chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
[5].Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo đã bị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự.
[6]. Về các biện pháp tư pháp: Truy thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền của bị cáo Nguyễn Quang T sử dụng để cho vay lãi nặng 171.000.000 đồng, và số tiền lãi cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự là 12.446.027 đồng (tiền do phạm tội mà có). Tổng cộng hai khoản tiền truy thu trên là 183.446.027 đồng (Một trăm tám mươi ba triệu bốn trăm bốn mươi sáu nghìn không trăm hai mươi bảy đồng). Được trừ vào số tiền 60.000.000 đồng bị cáo Nguyễn Quang T đã nộp.
(Bị cáo Nguyễn Quang T được trừ vào số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu dồng) đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang theo biên lai số BLTT/24 số 0000208 ngày 25/9/2024).
Đối với số tiền các bị cáo Nguyễn Quang T, Trần Văn T3 thu lợi bất chính từ những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm anh Phạm Hồng S, anh Phạm Xuân T4, anh Ban Văn T5, anh Hoàng Minh H, anh Tạ Bá T6, anh Phạm Ngọc A, anh Nguyễn Hữu T7, anh Ban Văn Đ, anh Âu Văn H1, anh Tô Văn H2, anh Cáp Văn S1, anh Trần Văn C, anh Trần Văn N2, anh Cao Khắc Đ1 không yêu cầu, đề nghị nhận lại nên HĐXX không xem xét xử lý.
12
[7]. Về vật chứng:
+ Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, vỏ màu tím, số Sê-ri FJ47203JCH, số máy: MQ8R3LL/A, bên trong lắp sim số thuê bao 0988.798.595, điện thoại cũ đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Quang T, được niêm phong theo quy định; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu đen, số S-ri 4HKRLBT4VKSS558D, bên trong máy có lắp sim, số thuê bao 0985104383, trên mặt thẻ sim có dãy số 8984048000058118482, điện thoại cũ đã qua sử dụng của bị cáo Trần Văn T3, được niêm phong theo quy định bị cáo không dùng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo.
+ Đối với 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Thị Thu H3, sinh ngày 27/12/1998; 01 (một) giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số đăng ký 22B2-552.68 mang tên chủ xe là Trần Thị Thu H3 không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho chị Trần Thị Thu H3:
+ Đối với 01 (một) giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số đăng ký 22S1-457.39, mang tên chủ xe là Trần Văn C, sinh năm 1991, thôn Đ, xã C, huyện S, Tuyên Quang không phải là tang vật của vụ án nên T8 lại cho anh Trần Văn C sinh năm 1991, thôn Đ, xã C, huyện S, tỉnh Tuyên Quang;
+ Đối với 01 (một) phong bì giấy màu trắng, bên ngoài ghi chữ mực đen "BAN MÔN VỢ HỒNG", bên trong phong bì có 01 thẻ Căn cước công dân số [...] mang tên Ban Văn M1, sinh năm 1985, trú tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang không phải là tang vật của vụ án nên trả lại cho anh B Văn M1 sinh năm 1985, trú tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang
[6]. Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Các bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm s, i khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự;
- - Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T hình phạt tiền 80.000.000 đồng (T9 mươi triệu đồng);
- - Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T3 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
- - Xử phạt bị cáo Trần Văn T3 hình phạt tiền 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng;
- Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46; Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Truy thu của bị cáo Nguyễn Quang T số tiền sử dụng để cho vay lãi nặng 171.000.000 đồng, và số tiền lãi cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự là 12.446.027 đồng (tiền do phạm tội mà có). Tổng cộng hai khoản tiền truy thu trên là 183.446.027 đồng (Một trăm tám mươi ba triệu bốn trăm bốn mươi sáu nghìn không trăm hai mươi bảy đồng).
(Bị cáo Nguyễn Quang T được trừ vào số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu dồng) đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang theo biên lai số BLTT/24 số 0000208 ngày 25/9/2024).
+ Trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, vỏ màu tím, số Sê-ri FJ47203JCH, số máy: MQ8R3LL/A, bên trong lắp sim số thuê bao 0988.798.595, điện thoại cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Quang T, được niêm phong theo quy định;
+ Trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu đen, số S-ri 4HKRLBT4VKSS558D, bên trong máy có lắp sim, số thuê bao 0985104383, trên mặt thẻ sim có dãy số 8984048000058118482, điện thoại cũ đã qua sử dụng của Trần Văn T3, được niêm phong theo quy định.
+ Trả lại cho chị Trần Thị Thu H3: 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Thị Thu H3, sinh ngày 27/12/1998; 01 (một) giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số đăng ký 22B2-552.68 mang tên chủ xe là Trần Thị Thu H3.
+ Trả lại cho anh Trần Văn C: 01 (một) giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số đăng ký 22S1-457.39, mang tên chủ xe là Trần Văn C, sinh năm 1991, thôn Đ, xã C, huyện S, Tuyên Quang.
+ Trả lại cho Ban Văn M1: 01 (một) phong bì giấy màu trắng, bên ngoài ghi chữ mực đen "BAN MÔN VỢ HỒNG", bên trong phong bì có 01 thẻ Căn cước công dân số [...] mang tên Ban Văn M1, sinh năm 1985, trú tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang ngày 23/9/2024).
- Căn cứ khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Quang T, Trần Văn T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Quang T, Trần Văn T3 có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Phạm Hồng S, anh Phạm Xuân T4, anh Ban Văn T5, anh Hoàng Minh H, anh Tạ Bá T6, anh Phạm Ngọc A, anh Nguyễn Hữu T7, anh Ban Văn Đ, anh Âu Văn H1, anh Tô Văn H2, anh Cáp Văn S1, anh Trần Văn C, anh Trần Văn N2, anh Cao Khắc Đ1 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án trong thời hạn
13
14
15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Ánh |
15
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hà Hữu Bình – Đinh Công Định |
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Hà |
16
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |
Bản án số 103/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 103/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quang Trung, Trần Văn Tài (Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
