|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 103/2024/DS-ST Ngày 24 tháng 9 năm 2024 V/v “Tranh chấp dân sự về chia di sản thừa kế” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Lư Thị Châu Ngọc.
Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Phan Thùy Trang và ông Lê Châu Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Trí – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Vân – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 231/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 409/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Hồng N, sinh năm 1995; nơi cư trú: tổ E, khóm M, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Phạm Thị Cẩm H, sinh năm 1962; nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Ông Hồ Phi D, sinh năm 1982; nơi cư trú: tổ E, khóm M, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Hồ Thị L, sinh năm 1971; nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.
- Bà Hồ Thị B, sinh năm 1973; nơi cư trú: số A, đường T, khóm M, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang.
- Ông Hồ Văn H1, sinh năm 1975; nơi cư trú: ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang.
- Ông Hồ Phi T, sinh năm 1978; nơi cư trú: tổ E, khóm M, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của ông D, bà L, ông H1, ông T: Bà Hồ Thị B, sinh năm 1973; nơi cư trú: số A, đường T, khóm M, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang.
Bà Cẩm H, bà B, bà L có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp nguyên đơn trình bày:
Bà N là con ruột của ông Hồ Văn S (1949 - 2018) và bà Phạm Thị B1 (1953 - 29/8/2023). Lúc sinh tiền, ông S, bà B1 có tạo lập tài sản là căn nhà gắn liền với phần đất ở có diện tích 61,6m², thửa 67, tờ bản đồ 62, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vảo sổ AK 126017 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) C, tỉnh An Giang cấp ngày 09/8/2007, cho bà Phạm Thị B1 và ông Hồ Văn S.
Trước khi chung sống với bà Phạm Thị B1, ông S có vợ trước tên Nguyễn Thị M (1951 - 1988), có 05 người con gồm: Hồ Phi D, Hồ Thị L, Hồ Thị B, Hồ Phi T và Hồ Phi H2. Tất cả 05 anh, chị (cùng cha khác mẹ với bà N) đã sống riêng, chỉ có cha mẹ và bà sinh sống tại căn nhà và đất tọa lạc nêu trên. Ông S, bà B1 chết không để lại di chúc và anh, chị em không thỏa thuận việc phân chia di sản.
Sau khi bà B1 chết, N đi làm ăn xa, ông D ngang nhiên mở khóa vào nhà. Vì vậy, bà N yêu cầu Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế theo quy định pháp luật, bà N nhận hiện vật và hoàn giá trị kỷ phần lại cho các đồng thừa kế còn lại. Cụ thể, bà N nhận ½ khối tài sản của mẹ và 1/6 suất tài sản của cha.
Tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ AK 126017 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) C, tỉnh An Giang cấp ngày 09/8/2007, cho bà Phạm Thị B1 và ông Hồ Văn S (Bản sao);
- Tờ cam kết không bỏ sót hàng thừa kế thứ nhất ngày 18/10/2023 (có chứng thực của UBND phường V, thành phố C).
- Trích lục khai tử của ông Hồ Văn S và bà Phạm Thị B1 (Bản sao).
Theo bản tự khai, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn trình bày:
Cha mẹ ông Hồ Văn S (1949 - 2018) và Nguyễn Thị M (1951 - 1988) có 5 người con chung gồm: Hồ Phi D, Hồ Thị L, Hồ Thị B, Hồ Phi T và Hồ Phi H2. Ông S, bà M tạo lập nhà đất tọa lạc tổ E, khóm M, phường V, thành phố C. Cha mẹ và tất cả các anh chị em đều ở căn nhà này.
Sau khi bà M chết, năm 1993, ông S sống chung với bà B1, có 01 con chung Hồ Thị Hồng N. Trong thời gian bà B1 sống chung với ông S, tất cả anh chị em ông đều sống chung một nhà. Sau đó, bà L, bà B và H2 có gia đình nên ở riêng, nhưng ban ngày vẫn sinh hoạt chung với gia đình ông S, bà B1, tối về nhà bên chồng ngủ. Nguồn gốc nhà đất là của cha mẹ ông (ông S, bà M) mua của ông Hồ Văn T1 năm 1980.
Ông S, bà M chết không để lại di chúc, đến tháng 8/2023 bà B1 chết thì phát sinh tranh chấp. Việc bà B1 đi làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với nhà đất nêu trên anh chị em không hay biết. Ông xác định nhà đất bà N yêu cầu chia thừa kế là của ông S, bà M.
Do đó, ông D không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N, yêu cầu chia tài sản trên đều cho 06 người, ông yêu cầu nhận hiện vật, hoàn giá trị kỷ phần cho nguyên đơn theo giá mà Hội đồng định giá đã xác định.
Tài liệu, chứng cứ ông D cung cấp: Tờ mua bán ngày 18/01/1980 (Phô tô).
Lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các ông bà Hồ Thị L, Hồ Thị B, Hồ Phi T và Hồ Phi H2: Thống nhất trình bày của bị đơn, không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thu thập chứng cứ:
- Trích lục hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ AK 126017 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) C, tỉnh An Giang cấp ngày 09/8/2007, cho bà Phạm Thị B1 và ông Hồ Văn S
- Đo đạc, định giá tài sản tranh chấp.
- Xác minh địa phương về nguồn gốc, quá trình quản lý sử dụng đất của các đương sự.
Tòa án đã mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng không thành.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn yêu cầu bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan hoàn trả kỷ phần thừa kế 400.000.000 đồng, nếu không thì yêu cầu nhận hiện vật và hoàn trả kỷ phần thừa kế theo pháp luật theo đơn kiện ban đầu cho ông D, bà B, ông H2, bà L, ông T.
- Bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chấp nhận hoàn trả kỷ phần thừa kế cho bà N 350.000.000 đồng; nếu bà N không đồng ý thì yêu cầu nhận hiện vật (nhà, đất) giao cho Hồ Phi D sử dụng; phần đất phân chia làm 6 phần bằng nhau theo giá Hội đồng định giá định; phần căn nhà đồng ý giao toàn bộ giá trị căn nhà cho bà N theo giá của Hội đồng định giá.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc phát biểu tại phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 48 BLTTDS. Xác định thẩm quyền thụ lý, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý của các đương sự, thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án và lập hồ sơ đúng theo quy định tại các Điều 195, 196, 198 và Điều 203, 208 BLTTDS năm 2015. Tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Đương sự chấp hành đúng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự nên đảm bảo được quyền, nghĩa vụ của mình.
- Về nội giải quyết: Xét thấy, nguyên đơn (bà N) khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế là căn nhà gắn liền với đất ở diện tích 61,6m², theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ AK 126017 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) C, tỉnh An Giang cấp ngày 09/8/2007 cho bà B1 và ông S theo quy định pháp luật, bà N xin nhận hiện vật và hoàn giá trị kỷ phần cho các đồng thừa kế còn lại. Cụ thể, bà N nhận ½ khối tài sản của bà B1 và 1/6 suất tài sản của ông S.
Căn cứ tài liệu chứng cứ trong hồ sơ thể hiện: Hàng thừa kế thứ nhất của bà B1 là bà N; hàng thừa kế thứ nhất của ông S là các ông bà L, B, H2, D, T, N. Ông S, bà B1 chết không để lại di chúc.
Đối với căn nhà: Các ông bà L, B, H2, D, T thống nhất không tranh chấp với bà N, đồng ý hoàn giá trị căn nhà là 149.700.250 đồng cho bà N, nên ghi nhận sự tự nguyện của đương sự.
Đối với phần đất: Bà N cho rằng là cho ông S và bà B1 tạo lập, thể hiện ông S, bà B1 được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, các ông bà L, B, H2, D, T không thừa nhận bà B1 cùng ông S tạo lập phần đất như lời trình bày của bà N, theo ông bà L, B, H2, D, T thì trước khi bà B1 về sinh sống cùng ông S thì đã có nhà - đất, nguồn gốc đất do mẹ ông bà là bà M trước khi chết đã tạo lập với ông S. Qua kết quả xác minh tại Ban khóm M, phường V thể hiện nguồn gốc đất do ông S1 và vợ bà M tạo lập quản lý sử dụng có trước khi ông S1 sinh sống cùng vợ sau là bà B1. Tường trình của ông T1 là em trai ông S xác định có bán cho ông S, bà M nền nhà vào năm 1984, ông S và bà M cất căn nhà cây tol ở. Đồng thời, tại phiên tòa bà H - đại diện theo ủy quyền của bà N (dì ruột của bà N) thừa nhận khi bà B1 về chung sống với ông S1 đã có nhà, đây là tình tiết không phải chứng minh. Từ có cơ sở xác định nguồn gốc đất tranh chấp do ông S, bà M tạo lập. Tuy nhiên, các đương sự không yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) C, tỉnh An Giang cấp ngày 09/8/2007 cho bà B1 và ông S và các ông bà L, B, H2, D, T đồng ý chia cho bà N được hưởng 01 suất như các thừa kế khác. Do đó, chấp nhận yêu cầu của các ông bà L, B, H2, D, T về chia thừa kế đối với giá trị đất, cụ thể các ông bà L, B, H2, D, T, N mỗi người được nhận: 831.600.000 đồng/6 = 138.600.000 đồng; không chấp nhận theo yêu cầu của bà N nhận ½ khối tài sản của bà B1 và 1/6 suất tài sản của ông S.
Đối với yêu cầu nhận hiện vật nhà, đất của bà N, ông D thấy rằng: Hiện ông D đang sinh sống trong căn nhà, ngoài nơi ở này ông không còn nơi ở khác; bà N đã di dời đồ dùng cá nhân, sinh sống nơi khác. Nguồn gốc đất có công tạo lập của bà M là mẹ ông D nên ngoài giá trị vật chất còn về yếu tố tinh thần. Do đó, giao hiện vật nhà, đất cho ông D là phù hợp, ông D hoàn giá trị đất cho các đồng thừa kế khác.
Lẽ ra, giá trị nhà, đất bà N được hưởng là 149.700.250 đồng + 138.600.000 đồng = 288.300.250 đồng, tuy nhiên nghĩ tình nghĩa anh em nên ông D tự nguyện hoàn cho bà N 350.000.000 đồng. Do đó, ghi nhận sự tự nguyện này của ông D.
Căn cứ theo các Điều 649, 650, 651 Bộ luật dân sự năm 2015 chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà N về chia di sản thừa kế như đã phân tích trên. Đề nghị HĐXX xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn yêu cầu chia di sản thừa kế do ông S, bà B1 chết để lại. Bị đơn và tài sản yêu cầu chia tại thành phố C, nên thuộc thẩm quyền theo quy định tại khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
[2] Bà N yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với nhà đất tọa lạc tổ E, khóm M, phường V, thành phố C hiện do ông Hồ Phi D quản lý sử dụng (Phần đất ở diện tích 61,6m² đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ AK 126017 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) C, tỉnh An Giang cấp ngày 09/8/2007 cho bà B1 và ông S (cha mẹ ruột bà N). Bà N yêu cầu nhận hiện vật, hoàn các kỷ phần thừa kế cho các con riêng của ông S (D, L, B, T, H2), cụ thể, bà N nhận ½ khối tài sản của mẹ và 1/6 suất tài sản của cha. Trường hợp ông D nhận tài sản thì hoàn kỷ phần thừa kế cho bà số tiền 400.000.000 đồng.
[3] Bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thống nhất phần tài sản do ông S để lại là nhà đất tọa lạc tổ E, khóm M, phường V, thành phố C hiện do ông Hồ Phi D quản lý sử dụng. Thống nhất hàng thừa kế thứ nhất của ông S, bà M, bà B1 6 người gồm: D, L, B, T, H2 và N.
[4] Như vậy, các đương sự thống nhất về hàng thừa kế (6 người) và tài sản yêu cầu chia thừa kế là nhà đất tọa lạc tổ E, khóm M, phường V, thành phố C hiện do ông Hồ Phi D quản lý sử dụng.
[5] Về phần đất: Bà N căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ AK 126017 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) C, tỉnh An Giang cấp ngày 09/8/2007, cho bà Phạm Thị B1 và ông Hồ Văn S yêu cầu nhận ½ khối tài sản của mẹ và 1/6 suất tài sản của cha. Tuy nhiên, qua xác minh địa phương xác định, trước khi chung sống với bà B1, ông S và bà M đã tạo lập nhà đất nêu trên, các con của ông S, bà M đã sống cùng ông S tại nhà đất này từ bé đến khi lập gia đình và hiện tại vẫn còn đang quản lý sử dụng nhà đất này; đồng thời, chính bà N, bà Cẩm H cũng thừa nhận phần đất này đã tồn tại trước khi ông S chung sống với bà B1. Ngoài ra, phía bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chứng minh được nguồn gốc phần đất là của cha mẹ ruột (Sển, M) mua của ông Hồ Văn T1 theo Tờ mua bán ngày 18/01/1980 (do bà Võ Thị S2) có bán cho ông Hồ Văn T1 và tường trình của ông T1 về việc bán lại phần đất các đương sự tranh chấp cho ông Hồ Văn S). Bên cạnh đó, tại hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà B1, ông S thể hiện đất sử dụng ổn định từ trước năm 1980, trong khi đó, bà M chết năm 1988 và bà B1 về chung sống với ông S từ năm 1993.
Từ các căn cứ trên, có cơ sở xác định phần đất nêu trên là do ông Hồ Văn S và bà Nguyễn Thị M tạo lập, nên không có căn cứ chấp nhận đây là di sản của ông S, bà B1.
[6] Về phần căn nhà hiện tại, có kết cấu gồm 2 phần (tầng hầm và tầng trệt: nóng đá, sàn ván + dal, vách tole, mái tol), bà N cho rằng do mẹ ruột sửa chữa, ông D, bà L, bà B, ông H2, ông T thống nhất không tranh chấp với bà N, đồng ý hoàn giá trị căn nhà là 149.700.250 đồng cho bà N; ý kiến, yêu cầu của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có lợi cho bị đơn, xét chấp nhận.
[7] Ông S, bà M, bà B1 chết không để lại di chúc, nên phần đất được phân chia theo pháp luật. Theo kết quả định giá của Hội đồng định giá: Quyền sử dụng đất diện tích 61.6m², giá 13.500.000 đồng/m², thành tiền: 61,6m² x 13.500.000 đồng/m² = 831.600.000 đồng; nhà có giá trị: 149.700.250 đồng.
[8] Về phần đất: Do xác định là di sản của ông S, bà M, giá trị là 831.600.000 đồng. Phần di sản bà M chết để lại chiếm ½ là (831.600.000 đồng : 2 = 415.800.000 đồng); phần di sản ông S chết để lại là 415.800.000 đồng chia 6 người, mỗi người là 69.300.000 đồng. Như vậy, nếu chia kỷ phần thừa kế theo pháp luật, bà N được nhận là 69.300.000 đồng.
[9] Về phần căn nhà: Kết cấu (tầng hầm và tầng trệt: nóng đá, sàn ván + dal, vách tole, mái tol), giá trị 149.700.250 đồng, bị đơn và những người có quyền và nghĩa vụ liên quan thống nhất giao giá trị căn nhà cho bà N, đây là sự tự nguyện có lợi cho bà N, nên chấp nhận.
[10] Như vậy, phần bà N được nhận thừa kế đất và giá trị toàn bộ căn nhà là (69.300.000 đồng + 149.700.250 đồng) = 219.000.250 đồng. Bà L, bà B, ông H2, ông T, ông D, bà N là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông S yêu cầu chia đều giá trị đất làm 6 phần bằng nhau, nên được hưởng phần bằng nhau đối với di sản do ông S chết để lại là 138.600.000 đồng/người. Như vậy phần bà N được chia là 138.600.000 đồng + 149.700.250 đồng = 288.300.000 đồng. Tuy nhiên bị đơn (D) tự nguyện hoàn số tiền 350.000.000 đồng. Xét, việc bị đơn tự nguyện hoàn số tiền 350.000.000 đồng cho nguyên đơn là có lợi cho nguyên đơn, nên công nhận.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng ý giao nhà đất cho ông D sở hữu, sử dụng, nên ông D có trách nhiệm hoàn kỷ phần thừa kế lại cho bà L, bà B, ông T, ông H2 mỗi người 138.600.000 đồng.
Do Hồ Phi D được sở hữu, sử dụng nhà đất nêu trên, nên buộc bà N (đang quản lý bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ AK 126017 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) C, tỉnh An Giang cấp ngày 09/8/2007, cho bà Phạm Thị B1 và ông Hồ Văn S giao lại cho Hồ Phi D để thực hiện việc chuyển quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
Ông Hồ Phi D có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký và thực hiện về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất diện tích 61,6m², thửa 67, tờ bản đồ 62, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ AK 126017 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) C, tỉnh An Giang cấp ngày 09/8/2007, cho bà Phạm Thị B1 và ông Hồ Văn S theo quy định pháp luật.
(Đính kèm Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh C lập ngày 20/5/2024).
[11] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá:
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà N đã tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá. Tuy nhiên, bà N xin tự nguyện chịu nên không đề cập xem xét giải quyết.
[12] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà L, bà B, ông H2, ông T, ông D, bà N mỗi người phải chịu án phí đối với phần di sản được hưởng theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 609, 610, 611, 612, 613, 649, 650 và 651 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 147, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện nguyên đơn
Công nhận phần đất có diện tích 61,6m² (thửa 67, tờ bản đồ 62, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ AK 126017 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) C, tỉnh An Giang cấp ngày 09/8/2007, cho bà Phạm Thị B1 và ông Hồ Văn S) là di sản thừa kế của ông Hồ Văn S và bà Nguyễn Thị M.
Công nhận giá trị căn nhà gắn liền với đất có diện tích 61,6m² (thửa 67, tờ bản đồ 62, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ AK 126017 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) C, tỉnh An Giang cấp ngày 09/8/2007, cho bà Phạm Thị B1 và ông Hồ Văn S) thuộc sở hữu của bà Hồ Thị Hồng N.
Ông Hồ Phi D được quyền sở hữu, sử dụng căn nhà gắn liền với phần đất có diện tích 61,6m², thửa 67, tờ bản đồ 62, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vảo sổ AK 126017 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) C, tỉnh An Giang cấp ngày 09/8/2007, cho bà Phạm Thị B1 và ông Hồ Văn S.
Ông Hồ Phi D có trách nhiệm hoàn trả giá trị kỷ phần cho các đồng thừa kế: Hồ Thị L, Hồ Thị B, Hồ Văn H1, Hồ Phi T mỗi người số tiền 138.600.000 đồng và hoàn cho Hồ Thị Hồng N số tiền 350.000.000 đồng.
- Buộc bà Hồ Thị Hồng N có trách nhiệm giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ AK 126017 do Ủy ban nhân dân thị xã C (nay là thành phố) Châu Đốc, tỉnh An Giang cấp ngày 09/8/2007, cho bà Phạm Thị B1 và ông Hồ Văn S cho ông Hồ Phi D thực hiện chuyển quyền sử dụng đất theo quy định.
- Ông Hồ Phi D có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký và thực hiện về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất diện tích 61,6m², thửa 67, tờ bản đồ 62, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vảo sổ AK 126017 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) C, tỉnh An Giang cấp ngày 09/8/2007, cho bà Phạm Thị B1 và ông Hồ Văn S theo quy định pháp luật.
(Đính kèm Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh C lập ngày 20/5/2024).
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà L, bà B, ông H1, ông T, ông D mỗi người phải chịu án phí là 6.930.000 đồng.
- Bà N phải chịu án phí đối với di sản được hưởng 17.500.000 đồng, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 11.332.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số TU/2022/0003642 ngày 27 tháng 10 năm 2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc. Bà N phải nộp thêm 6.168.000 (sáu triệu, một trăm sáu mươi tám nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lư Thị Châu Ngọc |
Bản án số 103/2024/DS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp dân sự về chia di sản thừa kế
- Số bản án: 103/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự về chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
