Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN B

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 103/2024/HS-ST

Ngày: 24 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thành Dững;

Bà Lê Thị Kim Thoa.

Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Trên – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 102/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Trường Đ, tên gọi khác (không) sinh ngày 01/01/1983, tại tỉnh Long An; Nơi cư trú: Khu phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đăng Q (chết) và bà Trương Thị M (chết); có vợ Nguyễn Thị Ngọc A và có 02 người con, tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/5/2024, chuyển tạm giam từ ngày 23/5/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện B (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Vòng Chủ Đ1, sinh năm 1997; Vắng mặt;

Địa chỉ: Số F đường số F, B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

- Người làm chứng: Dương Tấn Đ2, sinh năm 1994; Vắng mặt;

Nơi ĐKTT: Ấp F, xã M, huyện B, tỉnh Long An.

Tạm trú: Số C, Nguyễn Văn S, khu phố C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do đang thất nghiệp và cần tiền tiêu xài, Lê Trường Đ nhận chở thuê thuốc lá ngoại nhập lậu cho người đàn ông tên Đ1 (không rõ nhân thân, địa chỉ) với tiền công 500.000đ/chuyến. Khoảng 10 giờ ngày 20/5/2024, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu đen, biển số 50N1-982.18 chạy đến xã M, huyện Đ, tỉnh Long An gặp tên Đ1 để nhận thuốc lá ngoại đi giao cho khách ở ngã tư G, thuộc quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, Đ1 giao cho Đ một thùng nhựa màu trắng bên trong có 1.700 bao thuốc lá ngoại nhập lậu rồi Đ1 đưa thêm cho Đ 350 bao thuốc lá ngoại nhập lậu. Sau khi giao nhận thuốc lá ngoại xong, người đàn ông tên Đ1 chạy đi, còn Đ chất thuốc lá ngoại lên xe chở đi giao. Đến khoảng 12 giờ 30 cùng ngày, Đ chở thuốc lá ngoại đến đường kênh Bà K thuộc Ấp D, xã T, huyện B thì bị lực lượng Công an huyện B bắt quả tang và tạm giữ: 2.050 bao thuốc lá ngoại (100 bao thuốc lá hiệu Jet, 250 bao thuốc lá hiệu 555, 200 bao thuốc lá hiệu Esse Gold Leaf, 500 bao thuốc lá hiệu Esse Change màu xanh dương, 300 bao thuốc lá hiệu Esse Light, 200 bao thuốc lá hiệu Esse Special Gold, 200 bao thuốc lá hiệu Esse màu xanh trúc, 300 bao thuốc lá hiệu Esse Menthol); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu đen, biển số 50N1-982.18.

Tại Công văn số 125/CV-2024 HHTLVN ngày 15/8/2024 của H trả lời 08 mẫu cây thuốc lá điếu (01 cây có 10 bao) gồm các nhãn hiệu Jet, 555, Esse G, E, E, Esse S, Esse màu xanh trúc, Esse M1 là thuốc lá điếu nhập lậu.

Tại Bản Cáo trạng số 101/CT-VKSBL ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố bị cáo Lê Trường Đ về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Trường Đ hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận thẩm định, đồng thời không khiếu nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lê Trường Đ và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Trường Đ phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”; áp dụng đểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Trường Đ mức hình phạt từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Trường Đ.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự :

Đề nghị tịch thu tiêu hủy:

  • - 2.050 bao thuốc lá ngoại (100 bao thuốc lá hiệu Jet, 250 bao thuốc lá hiệu 555, 200 bao thuốc lá hiệu Esse Gold Leaf, 500 bao thuốc lá hiệu Esse Change màu xanh dương, 300 bao thuốc lá hiệu Esse Light, 200 bao thuốc lá hiệu Esse Special Gold, 200 bao thuốc lá hiệu Esse màu xanh trúc, 300 bao thuốc lá hiệu Esse Menthol).
  • - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu đen, biển số 50N1-982.18 Đông làm phương tiện vận chuyển thuốc lá ngoại, kiểm tra số khung, số máy xe đã bị đục xóa, Đ mua của một đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) với số tiền 6.000.000đ, không có làm giấy tờ mua bán. Qua xác minh thì ông Vòng Chủ Đ1 đứng tên Giấy chứng nhận đăng ký xe nhưng chưa điều tra làm rõ số máy, số khung nên đề nghị giao Cơ quan CSĐT Công an huyện B tiếp tục làm rõ, xử lý sau.
  • - Đối với người đàn ông tên Đ1 (không rõ họ tên, địa chỉ) đã giao thuốc lá ngoại cho Lê Trường Đ, hiện Cơ quan điều tra Công an huyện B không xác định được nhân thân và địa chỉ, nên tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau.

Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lê Trường Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292,293 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về nội dung:

Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Trường Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang vào lúc 12 giờ 30 phút ngày 20/5/2024, bản ảnh hiện trường, Kết luận Công văn số 125/CV-2024 HHTLVN ngày 15/8/2024 của H và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:

Khoảng 12 giờ ngày 20/5/2024, bị cáo Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu đen, biển số 50N1-982.18 chở thuê 2.050 bao thuốc lá ngoại (100 bao thuốc lá hiệu Jet, 250 bao thuốc lá hiệu 555, 200 bao thuốc lá hiệu Esse Gold Leaf, 500 bao thuốc lá hiệu Esse Change màu xanh dương, 300 bao thuốc lá hiệu Esse Light, 200 bao thuốc lá hiệu Esse Special Gold, 200 bao thuốc lá hiệu Esse màu xanh trúc, 300 bao thuốc lá hiệu Esse Menthol) cho người đàn ông tên Đ1 (chưa rõ nhân thân lai lịch) với tiền công 500.000đ/chuyến. Khi đến đường kênh Bà K thuộc Ấp D, xã T, huyện B thì bị cáo Đ bị lực lượng Công an huyện B bắt quả tang cùng tang vật.

Từ những căn cứ trên đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Trường Đ phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố bị cáo Lê Trường Đ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

Hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội và việc quản lý kinh tế tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của bị cáo gây ra là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.

Do đó, hành vi trái pháp luật của bị cáo cần xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự; cần áp dụng mức hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3]. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lê Trường Đ phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Lê Trường Đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4]. Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt đối với bị cáo Lê Trường Đ là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự thì hành vi phạm tội của bị cáo Lê Trường Đ còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự ; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự :

  • - Đối 2.050 bao thuốc lá ngoại (100 bao thuốc lá hiệu Jet, 250 bao thuốc lá hiệu 555, 200 bao thuốc lá hiệu Esse Gold Leaf, 500 bao thuốc lá hiệu Esse Change màu xanh dương, 300 bao thuốc lá hiệu Esse Light, 200 bao thuốc lá hiệu Esse Special Gold, 200 bao thuốc lá hiệu Esse màu xanh trúc, 300 bao thuốc lá hiệu Esse Menthol) là hàng cấm nên tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu đen, biển số 50N1-982.18 Đông làm phương tiện vận chuyển thuốc lá ngoại, kiểm tra số khung, số máy xe đã bị đục xóa, Đ mua của một đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) với số tiền 6.000.000đ, không có làm giấy tờ mua bán. Qua xác minh thì ông Vòng Chủ Đ1 đứng tên Giấy chứng nhận đăng ký xe nhưng chưa điều tra làm rõ số máy, số khung nên giao Cơ quan CSĐT Công an huyện B tiếp tục làm rõ, xử lý sau.

[7]. Đối với người đàn ông tên Đ1 (không rõ họ tên, địa chỉ) đã giao thuốc lá ngoại cho bị cáo Lê Trường Đ, hiện Cơ quan điều tra Công an huyện B không xác định được nhân thân và địa chỉ, nên tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau.

[8]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lê Trường Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Trường Đ phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
  2. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt: Bị cáo Lê Trường Đ 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 20/5/2024.

  3. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Trường Đ 45 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/9/2024) để đảm bảo cho việc thi hành án.
  4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  5. - Tịch thu tiêu hủy 2.050 bao thuốc lá ngoại (100 bao thuốc lá hiệu Jet, 250 bao thuốc lá hiệu 555, 200 bao thuốc lá hiệu Esse Gold Leaf, 500 bao thuốc lá hiệu Esse Change màu xanh dương, 300 bao thuốc lá hiệu Esse Light, 200 bao thuốc lá hiệu Esse Special Gold, 200 bao thuốc lá hiệu Esse màu xanh trúc, 300 bao thuốc lá hiệu Esse Menthol).

    - Giao Cơ quan CSĐT Công an huyện B điều tra làm rõ, xử lý đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu đen, biển số 50N1-982.18.

    (Vật chứng trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Long An hiện đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19 tháng 9 năm 2024.)

  6. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Lê Trường Đ nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
  7. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Long An;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện B;
  • - Công an huyện B;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện B;
  • - Sở tư pháp tỉnh Long An;
  • - Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Kim Thảnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN về vận chuyển hàng cấm

  • Số bản án: 103/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Trường Đ phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger