|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG Số: 108/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23-9-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Ngọc Trung
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Tống Văn Tâm
- 2. Ông Nguyễn Văn Thảo
- Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thị Phương Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa: ông Trương Văn Thế - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 305/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Đỗ Thị Thu T, sinh năm 1995.
Địa chỉ thường trú: tổ C, khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. (vắng mặt và có yêu cầu giải quyết vắng mặt)
- Bị đơn: ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1990.
Địa chỉ thường trú: tổ B, khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn trình bày:
Bà Đỗ Thị Thu T và ông Nguyễn Văn H tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện T, tỉnh Bình Dương, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 46/2013, ngày 26/9/2013.
Trong quá trình chung sống, thời gian đầu thì vợ chồng khá hạnh phúc. Từ năm 2020, giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi không thể giải quyết được. Nguyên nhân do ông H không lo làm ăn chăm lo cho gia đình vợ con mà thường xuyên uống rượu bia, không lo làm ăn, chăm sóc gia đình vợ con, thường xuyên đánh đập bà T, đập phá tài sản. Hiện tại hai vợ chồng đã không còn sống chung, mỗi người tự làm lo cho bản thân, hai vợ chồng hoàn toàn không có liên lạc, quan tâm lẫn nhau. Nhận thấy, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm không còn, không thể hàn gắn nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Văn H.
Về con chung: bà Đỗ Thị Thu T và ông Nguyễn Văn H có 02 con chung là Nguyễn Thanh S, sinh ngày 17/7/2014 và Nguyễn Thảo N, sinh ngày 06/01/2020. Bà Đỗ Thị Thu T yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung, không yêu cầu ông Nguyễn Văn H cấp dưỡng nuôi con. Hai con chung hiện đang sống chung với bà T tại tổ C, khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Hiện nay bà T đang làm việc tại Công ty TNHH Y với mức lương hàng tháng khoảng 11 triệu đồng. Bà T có nơi ở ổn định và có sự hỗ trợ của cha mẹ đẻ nên có đủ điều kiện để nuôi 02 con. Ông H thì làm thợ hồ nhưng không có việc làm thường xuyên mà thường hay uống rượu bia, quậy phá dẫn đến công an phường phải mời làm việc nhiều lần nên không đảm bảo việc nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Nguyễn Văn H nhưng ông H không đến Tòa án tham gia tố tụng, không gửi văn bản có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đỗ Thị Thu T vắng mặt và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Văn H vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật. Vụ án được đưa ra xét xử đúng thời hạn theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định tại chương XIV về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định tại theo các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.
+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bà Đỗ Thị Thu T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn H. Tại thời điểm thụ lý vụ án, bị đơn ông H đang cư trú tại thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Tại phiên tòa, nguyên đơn bà T vắng mặt và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn ông H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào các Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T, ông H.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ngày 26/9/2013, bà Đỗ Thị Thu T và ông Nguyễn Văn H tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện T (nay là phường P, thành phố T), tỉnh Bình Dương nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông H là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 và Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Xét thấy, bà T xác định từ năm 2020, giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi không thể giải quyết được. Nguyên nhân do ông H không lo làm ăn chăm lo cho gia đình vợ con mà thường xuyên uống rượu bia, không lo làm ăn, chăm sóc gia đình vợ con, thường xuyên đánh đập bà T, đập phá tài sản. Hiện tại hai vợ chồng đã không còn sống chung, mỗi người tự làm lo cho bản thân, hai vợ chồng hoàn toàn không có liên lạc, quan tâm lẫn nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông H nhiều lần để tiến hành hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng ông H đều vắng mặt, điều này chứng tỏ ông H cũng không có thiện chí mong muốn gia đình được đoàn tụ. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định, hôn nhân giữa bà T và ông H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà T là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống, bà T và ông H có 02 con chung là Nguyễn Thanh S, sinh ngày 17/7/2014 và Nguyễn Thảo N, sinh ngày 06/01/2020. Bà T có yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con. Hiện nay, 02 con đang do bà T trực tiếp nuôi dưỡng, bà T có công việc, nơi ở ổn định, cháu S cũng có nguyện vọng sống chung với bà T, ông H cũng không có yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Do đó, việc để bà T được trực tiếp nuôi con là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình nên có cơ sở chấp nhận.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên là phù hợp.
[4] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: bà Đỗ Thị Thu T phải nộp số tiền 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 58, 59, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị Thu T đối với bị đơn ông Nguyễn Văn H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: bà Đỗ Thị Thu T được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.
1.2. Về con chung: giao 02 con chung là Nguyễn Thanh S, sinh ngày 17/7/2014 và Nguyễn Thảo N, sinh ngày 06/01/2020 cho bà Đỗ Thị Thu T được quyền trực tiếp nuôi.
1.3. Về cấp dưỡng nuôi con: các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Vì lợi ích hợp pháp của con chung, khi đương sự có yêu cầu Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
1.4. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: bà Đỗ Thị Thu T phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000166 ngày 05/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên.
3. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Trung |
Bản án số 108/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 108/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà T yêu cầu ly hôn ông H
