TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 103/2024/HSST Ngày 18 tháng 9 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Đào
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Văn Kiểm
Bà Đào Thị Kim Liên
Thư ký phiên toà: Ông Đinh Trung Sơn - Thư ký tòa án Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 102/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 107/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Xuân C, sinh ngày 14/6/1975 tại Phú Thọ; Đăng ký hộ khẩu thường trú + chỗ ở hiện nay: Tổ A, phố Đ, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân H và bà Tô Thị Đ; vợ: Đặng Thị Kim L, sinh năm 1977; con; Chưa có; tiền án: Không; Tiền sự: Không; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 106 ngày 08/12/1997 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Xuân C 12 tháng tù về “Tội cưỡng đoạt tài sản công dân”, thời hạn tù tính từ ngày 28/8/1997, bồi thường cho bị hại 50.000 đồng và phải chịu 50.000 án phí hình sự sơ thẩm, 50.000 đồng án phí dân sự (Giá trị tài sản chiếm đoạt: 100.000 đồng). C ra trại ngày 28/8/1998; chấp hành xong án phí tháng 8/2011; đối với số tiền bồi thường thiệt hại, qua kiểm tra sổ thụ lý Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì không thụ lý khoản bồi thường trên và không có hồ sơ lưu trữ (Bản án số 63/2017/HSST ngày 18/5/2017 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì nhận định bản án này là nhân thân); Bản án hình sự sơ thẩm số 127/STHS ngày 22/6/1999 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Xuân C 15 năm tù về “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày 13/10/1998, phạt bổ sung 20.000.000 đồng, 02 năm quản chế sau khi mãn hạn tù và phải chịu án phí 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. C ra trại ngày 13/01/2011, chấp hành xong án phí ngày 12/4/2010, C được đình chỉ thi hành án đối với khoản tiền phạt 20.000.000 đồng theo Quyết định giải quyết miễn thi hành án dân sự số 27/QĐ-TA ngày 01/11/2012 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì; Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2017/HSST ngày 18/5/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Xuân C 25 tháng tù về “Tội Mua bán trái phép chất ma tuý ”, thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2017 và phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm (Khối lượng ma tuý là 0,231 gam Methamphetamine). C ra trại 19/12/2018, chấp hành xong án phí ngày 13/7/2017.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 08/6/2024, chuyển tạm giam ngày 13/6/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 12 giờ 00 phút ngày 08/6/2024, tại khu vực gần khu công nghiệp T, khu M, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác Công an thành phố V phát hiện và kiểm tra một người đàn ông có biểu hiện vi phạm pháp luật. Người này tự khai họ tên là Nguyễn Xuân C, sinh năm 1975, HKTT: Tổ 12, phố Đ, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Quá trình kiểm tra, C tự giác lấy từ tay trái ra giao nộp 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm viền màu xanh bên trong có chứa chất bột cục màu trắng và khai nhận đây là ma tuý Heroine của C mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Xuân C và niêm phong thu giữ túi ma túy. Ngoài ra, còn tạm giữ của C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xám đã cũ số seri 356338051283517 kèm sim số 0868673963; Tiền Việt Nam: 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng). Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra kết quả xét nghiệm ma túy bằng que thử nước tiểu đối với C, kết quả dương tính với chất ma túy.
Ngày 08/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số chất bột, cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Xuân C. Tại Kết luận giám định số 817/KL-KTHS ngày 12/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P kết luận: “Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm viền màu xanh gửi đến giám định là ma tuý; có khối lượng là 0,181 gam; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục ma tuý và tiền chất”.
Hoàn trả lại 0,145 gam chất bột cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau khi giám định, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong.
Về nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ, Nguyễn Xuân C khai nhận: Khoảng hơn 09 giờ ngày 08/6/2024, C bắt xe khách từ thành phố V sang khu vực gần chợ thị xã S, thành phố Hà Nội để tìm mua ma túy (C không nhớ biển kiểm soát xe). Tại đây, C gặp và hỏi mua được của một người phụ nữ khoảng 50 tuổi (C không biết tên, địa chỉ ở đâu) được 02 túi ma tuý heroine có đặc điểm là túi nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu xanh, bên trong đều chứa chất bột cục màu trắng với giá 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng). Sau đó, C cầm 02 túi ma túy vừa mua được đi đến khu vực vắng người gần đó. C lấy 01 túi ma tuý ra sử dụng hết cho bản thân, túi ma tuý còn lại C cầm ở tay trái rồi đi về thành phố V. Khi về đến khu vực gần khu công nghiệp T, khu M, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ thì C bị tổ công tác Công an thành phố V phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số 100/CT-VKSVT ngày 28/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Nguyễn Xuân C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân C từ 33 đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/6/2024
Về hình phạt bổ sung: Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 50.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đã cũ, số seri: 356338051283517 vỏ màu xám của bị cáo Nguyễn Xuân C.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a,c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu huỷ: 0,145 gam chất bột, cục màu trắng còn lại sau giám định được để trong 01 bì niêm phong số 817/KL-KTHS có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh P và 01 sim số 0868673963.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tố tụng:
Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho bị cáo đúng thời hạn do pháp luật quy định. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Xuân C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố là đúng. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay đều thống nhất phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận:
Hồi 12 giờ 00 phút ngày 08/6/2024, tại tổ A, khu M, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Xuân C có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,181 gam ma túy, loại Heroin với mục đích sử dụng cho bản thân thì tổ công tác Công an thành phố V phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Như vậy, bị cáo C phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xét thấy tính chất vụ án thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt cần xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo có nhân thân xấu đã 03 lần bị Tòa án xét xử về “Tội cưỡng đoạt tài sản của công dân, tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tội mua bán trái phép chất ma túy” nhưng đã được xóa án tích nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo tỏ ra ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra thể hiện bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, bị cáo C có 50.000đ tiền do lao động mà có và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xám đã cũ không liên quan đến việc phạm tội đó là một phần tài sản của bị cáo nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 0,145 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói của Phòng K Công an tỉnh P là mẫu vật hoàn lại sau giám định, cơ quan điều tra thu giữ của C là những vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy là phù hợp.
- Đối với sim số 0868673963 (kèm theo trong máy điện thoại di động nhãn hiệu Nokia) thu giữ của bị cáo C không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người phụ nữ bán ma túy cho C, do C không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để triệu tập xác minh làm rõ là phù hợp.
[3]. Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm c khoản 1 và khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, xử:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân C 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/6/2024.
Hình phạt bổ sung: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước của bị cáo Nguyễn Xuân C 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xám đã cũ, số seri 356338051283517.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy: của bị cáo Nguyễn Xuân C 0,145 gam chất bột cục màu trắng còn lại sau giám định được đựng trong 01 bì niêm phong có 817/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P và 01 sim số 0868673963;
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/8/2024 giữa Công an thành phố V và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì và Biên lai thu tiền số 0004801 ngày 28/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Xuân C phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Cao Thị Đào |
Bản án số 103/2024/HSST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 103/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân C phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
