Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2024/DS-PT

Ngày: 19 - 9 - 2024

V/v: Tranh chấp về đòi lại đất lấn chiếm.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga

Các Thẩm phán:

  • 1. Bà Trần Thị Mỹ Hải
  • 2. Bà Nguyễn Thị Hải Minh

- Thư ký phiên tòa:

Ông Nguyễn Trọng Chiến, Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan; Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 45/2024/TLPT - DS ngày 11 tháng 7 năm 2024, về việc: Tranh chấp về đòi lại đất lấn chiếm.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 183/2024/QĐPT-DS ngày 22/8/2024 và quy ết định hoãn phiên tòa số 16/2024/QĐPT-DS ngày 09/9/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: ông Hồ Xuân T năm 1950 và bà Nguyễn Thị P năm 1955. Cùng địa chỉ: Khối Q, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ AnÔng Tcó mặt, bà P1 mặt.
  • Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị P2: Ông Hồ Xuân T năm 1950; địa chỉ: Khối Q, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An Có mặt tại phiên tòa.
  • - Bị đơn: Ông Đậu S T1 sinh năm 1969 và bà Hồ Thị H, sinh năm 1974. Cùng địa chỉ: Khối Q, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ AnCó mặt tại phiên tòa.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đậu S T1: Ông Lê Công T1- Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh NVắng mặt tại phiên tòa (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân phường Q2, thị xã H, tỉnh Nghệ An Người đại diện theo pháp luật: Ông Văn Huy T2-Chức danh: Chủ tịch UBND phường Q Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử, giải quyết vắng mặt).
  • - Những người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng:
    1. Ông Nguyễn Đình H1 năm 1979; địa chỉ: Khối Q, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử, giải quyết vắng mặt).
    2. Ông Vũ Công L năm 1960; địa chỉ: Khối Q, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An Có mặt tại phiên tòa.
  • * Người kháng cáo: ông Hồ Xuân T năm 1950; Địa chỉ: Khối Q, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An Là: Nguyên đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Hồ Xuân T3 người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị P2 (ông Hồ Xuân T4:

Ông Hồ Xuân T3 bà Nguyễn Thị Psử D thửa đất số 762 tờ bản đồ số 02 (bản đồ địa chính 299) từ năm 1977 với diện tích theo bản đồ là 600m², có nguồn gốc Hợp tác xã giao đất ở, đất vườn. Đến ngày 26 tháng 3 năm 1999, ông bà được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Hồ Xuân T5 N527461 cho thửa đất số 13 tờ bản đồ số 128-74 (theo bản đồ địa chính năm 1997) diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 540m². Diện tích theo bản đồ địa chính ghi nhận là 560m². Phía Bắc thửa đất số 13 tờ bản đồ số 128-74 thuộc quyền sử dụng của ông bà tiếp giáp với thửa đất số 12 thuộc quyền sử dụng của ông Đậu S T1và bà Hồ Thị H2 Ranh giới giữa hai nhà là đường thẳng nhưng không có bờ tường ngăn cách giữa hai nhà. Giữa thửa đất của hai nhà là lối đi chung do hai gia đình tự bỏ đất để làm lối đi chung từ giáp đường giao thông đến khoảng 2/3 thửa đất; khi làm lối đi chung mỗi nhà bỏ ra bao nhiêu đất thì ông T6 không rõ. Trước đây ranh giới giữa hai thửa đất có một bờ đất và ông T7 đóng một thanh thép làm điểm mốc nhưng thời gian đã lâu còn thanh thép hay không thì ông T27 rõ. Giữa hai gia đình trước đó chưa làm tường bao ngăn cách. Quá trình sử dụng ngõ đi chung không xảy ra mâu thuẫn gì.

Đến năm 2016, ông Thà P3 nhà cho con trên phần đất ngõ đi chung của hai gia đình được sự đồng ý của ông T1và xây vào phần đất của lối đi chung 20 cm. Vì ngõ đi chung của hai gia đình rộng 1,25m. Sau khi xây nhà cho con xong, ông T3 ông Tinảy sinh tranh chấp và hai bên có được khối hòa giải và lập biên bản phân chia ngõ ngày 20/11/2016 chia đôi ngõ đi của hai nhà, mỗi nhà được 62cm. Ông T1xây dựng tường bao như hiện trạng sau khi lập bản giấy thỏa thuận cam kết chia đôi ngõ chưa đúng vì ngõ chung rộng 1,25m, ông T8 nhà cho con lên phần đất ngõ là 20cm còn lại 42cm nhưng ông Tiđã xây tường bao và làm cổng lên phần đất này.

Nay ông T3 bà P4 cầu ông Tlvà bà H trả lại phần đất lấn chiếm thuộc quyền sử dụng đất của ông T3 bà P5 15.8m² có vị trí như kết quả trích đo của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã H các công trình đã xây dựng trên phần đất lấn chiếm này. Điểm mốc giới tiếp giáp với bờ sông H(hướng Tây của thửa đất) là điểm tiếp giáp giữa hai tấm bê tông do ông T3 ông T1dùng để lát qua mương nước của Hợp tác xã. Điểm mốc giới phía Đông của thửa đất tiếp giáp với đường giao thông cách bờ tường nhà của con trai ông T23 50cm.

Tại phiên tòa ông T9 cầu do ông T1và bà H đã xây dựng công trình lên phần đất lấn chiếm của ông bà và diện tích đất còn lại không sử dụng được vào mục đích gì. Ông T9 cầu ông Tlvà bà H trả lại quyền sử dụng đất cho ông Thà P6 hợp không trả lại được bằng quyền sử dụng đất thì trả lại bằng tiền trị giá phần quyền sử dụng đất theo giá trị định giá 94.800.000 đồng và giao quyền sử dụng phần đất ông T1 và bà H đã lấn chiếm cho ông T1và bà H sử dụng.

Tại Bản tự khai, Biên bản lấy lời khai, quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa bị đơn ông Đậu S Tlvà bà Hồ Thị H, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Thông Lê Công T2thống nhất khai:

Ông Đậu S T1và bà Hồ Thị H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N527468 ngày 26 tháng 3 năm 1999 mang tên chủ sử dụng đất là Đậu Sỹ T1đối với thửa đất số 12 tờ bản đồ số 128-74 diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 487m². Nguồn gốc thửa đất là của bố mẹ ông Tiđược Hợp tác xã cắt đất ở cho các hộ gia đình, giao lại cho ông Tlvà bà H khi lập gia đình ra ở riêng. Phía Nam thửa đất giáp ranh với thửa đất của ông T14 PRanh giới giữa hai nhà là lối đi chung của hai gia đình, rộng khoảng 2m dài từ đường giao thông đến công trình chăn nuôi của ông T1và bà H2 Ban đầu lối đi chỉ có phía nhà ông T1và bà H khoảng 90cm. Sau đó ông T7 góp đất đi để đi chung vào lối đi từ trước của ông bà. Phía sau không có lối đi chung. Phía sau cũng không có bờ tường ngăn cách giữa hai gia đình mà ông bà có xây một bờ đá để ngăn trâu bò xuống mương.

Năm 2016, ông T10 nhà cho con có xây nhà ra giữa lối đi của hai gia đình nên xảy ra tranh cãi với nhau. Sau đó khối hòa giải và hai gia đình chia đôi ngõ. Biên bản thỏa thuận ngày 20/11/2016 do ông T11 có chứng kiến của anh Nguyễn Đình H3 anh Vũ Công L1 khi lập biên bản, ông T12 ông L2 dây, cắm mốc để ông T1và bà H xây tường bao, làm cổng như hiện trạng hiện nay. Đối với việc ông T4 điểm mốc phía Tây của thửa đất là điểm tiếp giáp hai tấm bê tông bắc qua mương nước là không đúng vì tấm bê tông đó ông Tlbà Hbắc qua mương để trâu bò đi qua, không phải căn cứ để làm mốc. Điểm mốc phía Đông của thửa đất do ông T17 xác định cách bờ tường nhà con ông T13 cm cũng không đúng vì bờ tường ranh giới do ông bà xây dựng đã xây đúng mốc giới. Ông Tlbà H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T3 bà PHiện trạng ranh giới hai thửa đất đã đúng với thỏa thuận năm 2016.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân phường Q2 trình bày:

Ủy ban nhân dân phường Q2 cung cấp thông tin về nguồn gốc ngõ đi chung của thửa đất số 13 và thửa đất số 12, tờ bản đồ số 128-74.

Theo đó nguồn gốc đất của gia đình ông T3 gia đình ông T1sử dụng đều có nguồn gốc do Hợp tác xã H3giao đất sử dụng làm nhà ở từ năm 1977.

Về ngõ đi chung: Nguồn gốc khi giao đất đi theo đường chính của khối không có ngõ đi chung giữa hai hộ (bản đồ 299 năm 1983 thửa đất số 762 và 753, tờ bản đồ số 02 Hợp tác xã Ykhông thể hiện có ngõ đi chung) mà ngõ đi chung của hai gia đình ông T và ông T1tự tạo lập từ đất được giao cho hai gia đình để đi vào khoảng năm 1986, 1987. Đến năm 1997 do trên thực địa có lối đi nên bản đồ đo đạc năm 1997 thể hiện có lối đi giữa hai thửa đất. Lối đi chung có nguồn gốc là đất của ông Hồ Xuân T14 Nguyễn Thị P7 ông Đậu S Tlbà Hồ Thị H2

Tại Bản tự khai và tại phiên tòa người làm chứng ông Nguyễn C Likhai: Ông Nguyễn C Lilà khối trưởng khối Qnăm 2016, ông không có quan hệ họ hàng gì với nguyên đơn và bị đơn. Vào năm 2016 giữa hai gia đình ông T1và ông T7 xảy ra tranh chấp lối đi chung. Lối đi chung của hai gia đình khoảng 2/3 thửa đất. Việc xảy ra tranh chấp do ông T10 nhà lên phần đất là lối đi chung của hai gia đình, ông T1làm đơn lên phường để hòa giải. UBND phường Q2 giao cho khối hòa giải cho hai gia đình, sau khi hòa giải hai bên thống nhất chia đôi ngõ và cắm mốc, lập biên bản thỏa thuận. Lúc cắm mốc xác định điểm mốc giới phía trước giáp với đường giao thông của khối và phía sau giáp với mương nước của Hợp tác xã đều do ông T1và ông T15 thuận thống nhất tự xác định. Sau đó giăng dây theo điểm mốc giới đã cắm. Sau khi cắm mốc ông T1xây dựng tường bao theo đúng mốc giới đã cắm khi hòa giải.

Tại Bản tự khai người làm chứng ông Nguyễn Đình H4: Năm 2016, ông Nguyễn Đ H1là Bí thư Chi bộ, Trưởng ban công tác mặt trận khối Q, phường Q Khi ông T8 nhà cho con phát sinh tranh chấp ngõ đi với ông Đậu S TIỦy ban nhân dân phường giao cho khối hòa giải cho hai ông. Sau khi hòa giải hai ông thống nhất lập biên bản thỏa thuận phân chia ranh giới. Sau khi lập biên bản xong ông T12 ông Tivà ông Liông H1cắm mốc từ trước ra sau, giăng dây phân chia ranh giới hai thửa đất. Việc xác định các điểm mốc giới do ông T16 T1thống nhất với nhau. Sau khi cắm mốc, giăng dây hai bên đã xây tường bao như hiện trạng sử dụng. Ông T1 đã xây tường bao đúng với khi cắm mốc.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ tài sản phần đất tranh chấp và định giá tài sản

  • - Thửa đất số 12 tờ bản đồ số 128-74 (bản đồ địa chính năm 1997) thuộc quyền sử dụng của ông Hồ Xuân T3 bà Nguyễn Thị Phương N ứng với thửa đất số 378 tờ bản đồ số 10 bản đồ địa chính số. Diện tích theo ranh giới hiện trạng sử dụng đất là 640,6m².
  • - Thửa đất số 13 tờ bản đồ số 128-74 (bản đồ địa chính năm 1997) thuộc quyền sử dụng của ông Đậu S Tlvà bà Hồ Thị H nay tương ứng với thửa đất số 374 tờ bản đồ số 10 bản đồ địa chính số. Diện tích theo ranh giới hiện trạng sử dụng đất là 592,7m².

Phần diện tích đất tranh chấp hiện đang thuộc một phần thửa đất số 12 tờ bản đồ số 128-74 có kích thước theo mốc giới ông Hồ Xuân T17 xác định như sau:

  • - Phía Đông giáp đường giao thông có kích thước 0,54m tính từ bờ tường nhà của con ông T
  • - Phía Tây giáp mương nước có kích thước 0,28m tính từ mép ngoài bờ tường bao do ông T1xây dựng.
  • - Phía Nam là đường kéo dài thuộc một phần phần thửa đất số 12 tờ bản đồ số 128-74 từ điểm mốc giới do ông T18 định từ trước ra sau thửa đất có kích thước 37,31m.
  • - Phía Bắc là mép ngoài bờ tường bao do ông Đậu S T1xây dựng tiếp giáp với thửa đất số 13 của ông T7 kích thước 25,78m+11,48m.

Diện tích phần đất tranh chấp là 15,8m² có giá 94.800.000 đồng

Tài sản trên đất là bờ tường xây bằng táp lô nối tiếp nhau do ông T19, bà H xây dựng gồm đoạn bờ tường cao 30cm, dài 11,8m có da trát trị giá 608.000 đồng, bờ tường cao 1,57m, dài 11,9m, đoạn bờ tường cao 60cm, dài 13,5m không da trát có giá 2.410.000 đồng. Một cột cổng kích thước 2m x 0,4m x 0,4m có giá 344.000 đồng.

Hiện trạng sử dụng đất, ranh giới giữa thửa đất số 13 và thửa đất số 12 tờ bản đồ số 128-74 là bờ tường bao do ông Đậu S Tlvà bà Hồ Thị H xây dựng. Ngoài ranh giới là bờ tường bao không có các điểm mốc giới được xác định chung bởi ông Thà P8 ông T1bà H.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An đã quyết định:

Căn cứ vào các Điều 170, 175, 176 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100, khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai 2013.

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, khoản 1 Điều 227, khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Xuân T3 bà Nguyễn Thị P9 việc buộc bị đơn ông Đậu S Tlvà bà Nguyễn Thị H5 phải trả lại quyền sử dụng đất là 15,8m².

Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự trong vụ án.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06 tháng 5 năm 2024 nguyên đơn ông Hồ Xuân T20 kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An với lý do: vì lâu ngày và bê tông hóa mốc bề mặt không có nữa, Tòa quyết không mốc không có chủ quyền. Tòa án chưa tra cứu Bản đồ 1997 xác định mốc trên bản đồ là vĩnh cửu, không gì thay thế được, dựa vào bản đồ 1997 làm thực tế để kết luận, buộc ông T1bà H2 trả lại phần đất lấn chiếm có diện tích là 15,8m²

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Hồ Xuân T21 nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung kháng cáo, sửa Bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông. Bị đơn ông Đậu S Tlvà bà Hồ Thị H đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An. Tại luận cứ gửi đến Toà án, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Hồ Xuân T22 ông Đậu S Tlvà bà Hồ Thị H trả lại diện tích đất bị lấn chiếm là 15,8m².

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công thực hiện đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về tính có căn cứ, hợp pháp của kháng cáo: Kháng cáo của ông T đúng thời hạn và ông T23 người cao tuổi, thuộc đối tượng được miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý là đúng quy định. Về nội dung kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 08/2023/DS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.
  • - Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Hồ Xuân T23 người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn ông Hồ Xuân T20 có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, hình thức và nội dung đơn kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Đồng thời, tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã hỏi ý kiến của các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không nhưng các đương sự không thỏa thuận được. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2]. Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Hồ Xuân T20, Hội đồng xét xử thấy rằng:

  • - Về nguồn gốc của phần diện tích đất tranh chấp: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm, nguyên đơn, bị đơn đều thừa nhận thửa đất mà ông Hồ Xuân T14 Nguyễn Thị Psử dụng là thửa đất số 13, tờ bản đồ số 128-74 (bản đồ địa chính năm 1997) nay tương ứng với thửa đất số 378, tờ bản đồ số 10 (bản đồ địa chính số năm 2017) còn thửa đất mà ông Đậu S Tlvà bà Hồ Thị Hsử D1 là thửa đất số 12, tờ bản đồ số đồ số 128-74 (bản đồ địa chính năm 1997) nay tương ứng với thửa đất số 374, tờ bản đồ số 10 (bản đồ địa chính số năm 2017). Nguồn gốc đất của gia đình ông T3 gia đình ông T1sử dụng đều do Hợp tác xã H3giao đất sử dụng làm nhà ở từ năm 1977.
  • Về ngõ đi chung: nguồn gốc khi giao đất đi theo đường chính của khối không có ngõ đi chung giữa hai hộ (bản đồ 299 năm 1983 thửa đất số 762 và 753, tờ bản đồ số 02 Hợp tác xã Ykhông thể hiện có ngõ đi chung) mà ngõ đi chung của hai gia đình ông T3 ông T1tự tạo lập từ đất được giao cho hai gia đình để đi vào khoảng năm 1986, 1987. Đến năm 1997 do trên thực địa có lối đi nên bản đồ đo đạc năm 1997 thể hiện có lối đi giữa hai thửa đất. Do đó, có căn cứ để xác định lối đi chung giữa phần đất của ông T3 ông Tícó nguồn gốc là do các bên tự tạo dựng, trong đó căn cứ vào Bản đồ địa chính năm 1997 thể hiện lối đi theo Bản đồ địa chính nằm về phía thửa đất số 12, tờ bản đồ số 128 – 74 của ông Tinên có cơ sở để xác định ông T1và bà H là người tự tạo dựng lối đi trước, sau đó ông T3 bà P10 đất để đi chung ra đường giao thông và mở rộng lối đi đã có. Tuy nhiên, khi góp đất không có văn bản, giấy tờ gì nên không có cơ sở để xác định phần diện tích góp đất của mỗi bên là ½ như nguyên đơn trình bày.
  • - Về quá trình sử dụng đất: nguyên đơn cho rằng sau khi nguyên đơn xây nhà cho con xong đã phát sinh tranh chấp với ông T19, khối xóm đã tiến hành hòa giải và lập biên bản phân chia ngõ ngày 20/11/2016 chia đôi ngõ đi của hai nhà, mỗi nhà được 62cm. Ông Tlxây dựng tường bao như hiện trạng sau khi lập bản giấy thỏa thuận cam kết chia đôi ngõ chưa đúng vì ngõ chung rộng 1,25m, ông T8 nhà cho con lên phần đất ngõ là 20cm còn lại 42cm nhưng ông Tiđã xây tường bao và làm cổng lên phần đất này. Bị đơn cho rằng sau khi lập Biên bản thoả thuận ngày 20/11/2016, nguyên đơn cùng người làm chứng là ông Vũ Công L3 giăng dây, cắm mốc để bị đơn xây tường bao, làm cổng như hiện nay. Lời trình bày này của bị đơn là phù hợp với lời khai của của người làm chứng ông Vũ Công Lông Nguyễn Đình H6 phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn cũng thừa nhận sau khi lập Biên bản thoả thuận ngày 20/11/2016 thì ông Tlmới xây dựng tường bao, khi xây dựng nguyên đơn không phản đối gì. Mặt khác, nguyên đơn kháng cáo yêu cầu dựa vào bản đồ 1997 làm cơ sở, làm thực tế để kết luận nhưng theo kết quả đo vẽ hiện trạng sử dụng đất thực tế của nguyên đơn và bị đơn do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã Hthực hiện trong quá trình Toà án nhân dân dân thị xã Hgiải quyết vụ án đều tăng diện tích so với bản đồ địa chính năm 1997 và GCNQSD đất đã được cấp nên không có căn cứ để chấp nhận lời trình bày này của nguyên đơn. Mặt khác, hiện trạng sử dụng đất theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ do Tòa án thị xã Hoàng Mai tiến hành đã xác định tiếp giáp với bờ tường ranh giới của ông T1xây dựng là nhà ở cấp 4 một tầng của con ông T24 ở không trổ cửa sổ sang phần đất của ông T1không có mái giọt lia sang phần đất của ông T25 khi đó nhà của con ông T26 xây dựng trước khi ông T1xây tường bao. Do đó, khi xét xử sơ thẩm, cấp sơ thẩm căn cứ vào hồ sơ, bản đồ địa chính qua các thời kỳ, kết quả đo đạc thực tế, lời khai của những người làm chứng ông Vũ Công L4 ông Nguyễn Đình H7 xác định ông Tlbà H đã xây tường bao đúng ranh giới, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả lại phần diện tích đất lấn chiếm 15,8m² là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 166, 170, 203 Luật Đất đai; Điều 175, 176 Bộ luật Dân sự nên không có cơ sở để chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[3]. Về án phí phúc thẩm: kháng cáo của ông Hồ Xuân T27 được chấp nhận nhưng ông T23 người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Hồ Xuân T20; giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2024/DS-PT

Ngày: 16 - 9 - 2024

V/v: Tranh chấp về quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh N1

Các Thẩm phán:

  • Bà Trần Thị Mỹ H8
  • Ông Trần Quốc C1

- Thư ký phiên tòa:

Bà Phạm Thị Ngọc Q, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Tuyết L5; Kiểm sát viên.

Trong các ngày 12 tháng 8 năm 2024, 09 tháng 9 năm 2024 và 16/9/2024 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 159/2023/TLPT - DS ngày 28 tháng 12 năm 2023, về việc: Tranh chấp về quyền sử dụng đất.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 174/2024/QĐPT-DS ngày 29/7/2024 và quyết định tạm ngừng phiên tòa số 05/2024/QĐPT-DS ngày 12/8/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Chu Văn T28, sinh năm: 1971; Nơi cư trú: Xóm Y, xã T, huyện Y, Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  • Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Xóm Y, xã T, huyện Y, Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
  • - Bị đơn: Anh Chu Xuân Đ1, sinh năm: 1979; Nơi cư trú: Xóm Y, xã T, huyện Y, Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.
  • Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Chị Thái Thị H9, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Xóm Y, xã T, huyện Y, Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Phan Thị N2 và Luật sư Đinh Thị S1; Văn phòng L8 và cộng sự thuộc Đoàn luật sư tỉnh N; Địa chỉ: Đường T, xóm E, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Xóm Y, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
    2. Chị Thái Thị H9, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Xóm Y, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa
    3. Ông Chu Văn L6, sinh năm 1945; Nơi cư trú: Xóm Y, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
    4. Bà Lê Thị Ư, sinh năm 1946. Nơi cư trú: Xóm Y, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.
  • Người đại diện theo ủy quyền của bà Ư: Ông Chu Văn L6, sinh năm 1945; Nơi cư trú: Xóm Y, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
  • * Người kháng cáo:
    1. Anh Chu Xuân Đ1, sinh năm: 1979; Nơi cư trú: Xóm Y, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Là: Nguyên đơn trong vụ án.
    2. Chị Thái Thị H9, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Xóm Y, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Là: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10 tháng 10 năm 2021 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là ông Chu Văn T28 trình bày:

Năm 2016 ông có mua 01 thửa đất của ông Chu Văn L6 và bà Nguyễn Thị Ư1 với diện tích 468 m² tại thửa đất số 203, vị trí: xóm Y, xã T, huyện Y. Khi mua hai bên làm hợp đồng theo đúng quy định của pháp luật. Khi mua tin tưởng diện tích đúng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD) đất nên vợ chồng ông không kiểm tra lại kích thước, diện tích đất. Mua xong vợ chồng ông sử dụng đất cho đến nay. Đến năm 2021 vợ chồng ông làm thủ tục tách thửa đất thì Văn phòng đất đai về kiểm tra, đo đạc thửa đất thì phát hiện diện tích thực tế của thửa đất của vợ chồng ông thiếu 27m² so với diện tích trong GCNQSD đất. Trước khi chuyển nhượng thửa đất, ông L6 không biết đất bị thiếu, không biết đất bị anh Đ1, chị H9 lấn chiếm. Sau đó cán bộ địa chính xã về làm việc và kiểm tra đo lại diện tích đất thực tế của vợ chồng ông và diện tích đất thực tế của anh Đ1, chị H9 ở liền kề thì phát hiện diện tích đất của vợ chồng ông thiếu, diện tích đất của anh Đ1 và chị H9 thừa. Theo ông diện tích đất của vợ chồng thiếu là do vợ chồng anh Đ1, chị H9 lấn chiếm.

Nay ông yêu cầu anh Đ1, chị H9 trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là khoảng 27m². Trên diện tích lấn chiếm ông Đ1, bà H9 đã xây bờ bao và làm ngõ đi vào nhà.

Theo Bản tự khai ngày 02 tháng 01 năm 2021 và quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị O trình bày: Bà nhất trí như lời trình bày của ông T28.

Theo Bản tự khai ngày 02 tháng 01 năm 2021 và quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Thái Thị H9 trình bày:

Thửa đất hiện nay vợ chồng chị đang sử dụng là thửa đất số 191, tờ bản đồ số 13, địa chỉ: Xóm Y, xã T, huyện Y có ranh giới ổn định từ trước tới nay. Năm 2002 bố mẹ chồng chị là ông Chu Xuân T29 (chết ngày 28/07/2002) và mẹ Thái Thị T30 (chết ngày 03/08/2021) làm nhà V ba gian nhưng chưa ra ở. Đến ngày 16/01/2004 (Â) anh Đ1 cưới chị về và vợ chồng ở chung với bà T30 tại xóm H, xã T, huyện Y. Đến tháng 3/2004 bà T30 cho vợ chồng chị ra ở riêng tại căn nhà V ba gian ở xóm Y, xã T, huyện Y. Khi đó thửa đất đã có ranh giới rõ ràng giữa gia đình chị với gia đình ông Chu Văn L6. Năm 2008 vợ chồng chị xây móng và bờ bao (giáp thửa đất của ông L6), lúc đó được sự chứng kiến của ông Chu Văn L6. Bên phía ông L6 thì trồng hoa màu, bên nhà chị thì làm ngõ đi bằng bê tông xi măng. Năm 2011 – 2012 vợ chồng chị xây thêm 01 ngôi nhà ngang, sau khi xây xong còn thừa một ít táp lô thì chị tiếp tục xây bờ bao lên cao. Đầu năm 2013 vợ chồng chị làm mái tôn trước sân có chôn cọc nằm sát phía trong bờ bao. Cuối năm 2013 vợ chồng chị làm cổng sắt. Cuối năm 2015 vợ chồng chị đồ đất nâng cao ngõ đi vào nhà. Ngày 27/06/2016 được UBND huyện Y cấp giấy CNQSD đất với diện tích 708m² (trong đó đất ở 400 m², đất TCLN 308 m²) mang tên bà Thái Thị T30. Đến ngày 22/11/2018 mẹ và anh em ruột của anh Đ1 tặng cho vợ chồng chị thửa đất trên. Những công việc trên được làm trước khi cấp giấy CNQSD đất cho ông T28 và bà O. Quá trình sử dụng thửa đất thì thửa đất liền kề của ông L6 chỉ trồng cây nông nghiệp, chưa xây dựng công trình gì.

Nay ông T28 khởi kiện yêu cầu vợ chồng chị trả diện tích đất lấn chiếm 27m² thì chị không chấp nhận vì: chị đã sử dụng đất ổn định từ trước đến nay, không xẩy ra tranh chấp gì với ông Chu Văn L6, ranh giới thửa đất ở của chị có trước khi cấp Giấy CNQSD cho mẹ chồng chị, cho ông L6 và không xẩy ra tranh chấp thì ông Chu Văn T28 mới được cấp Giấy CNQSD đất. Diện tích, kích thước thửa đất của vợ chồng chị do chính quyền giao.

Theo Bản tự khai ngày 19 tháng 11 năm 2021 và quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Chu Văn L6 và là người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị Ư trình bày:

Năm 1999, ông có mua một thửa đất để làm nhà ở cho con. Tại thời điểm mua, UBND xã M (nay là T) bán 6 suất đất ở liền kề nhau, diện tích các suất đất không giống nhau. Suất đất của ông có diện tích 546m², tiền nộp 5.500.000 đồng (kích thước không rõ), diện tích kích thước của các suất đất khác ông không biết. Suất đất của gia đình ông ở thứ 3, phía Đông liền kề thửa đất của ông T29 (nay của anh Đ1), phía Tây liền kề thửa đất của ông Q1 (nay của anh H10). Khi giao nhận đất là có đóng cọc làm ranh giới nhưng không xây dựng mốc giới. Nhận đất xong ông làm nông nghiệp khoảng vài năm. Đến năm 2012 thì ông đổ đất đắp nền, từ đó đến khi bán cho ông T28 là không sử dụng. Quá trình ông Đ1 xây dựng bờ bao liền kề ông không được bà T30, ông Đ1 báo và ông cũng không chứng kiến việc xây bờ bao, mốc giới. Thời gian sau không có điều kiện làm nhà, nên năm 2016 ông chuyển nhượng thửa đất cho anh T28 toàn bộ số diện tích, kích thước theo đúng Giấy CNQSD đất. Căn cứ vào diện tích được cấp trong giấy CNQSD đất ông giao cho anh T28, chứ hai bên không đo đạc lại, giờ anh T28 đo đạc lại đất thấy thiếu, bên anh Đ1 thì thừa đất. Vậy ông đề nghị căn cứ vào giấy CNQSD đất để làm, bên nào sai thì phải chịu và đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2023/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ vào Điều 175, 176 của Bộ luật Dân sự; Điều 203, 170 Luật Đất đai; Điều 147, Điều 157, 158, 165, 166; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Chu Văn T28:

Buộc ông Chu Xuân Đ1 và bà Thái Thị H9 tháo dỡ tài sản gắn liền với đất lấn chiếm (gồm bờ rào, sân, mái tôn, cổng) và trả 12m² đất ở (có kích thước: cạnh phía Bắc giáp thửa đất số 191 của ông Đ1, dài 22,88m; cạnh phía Nam giáp thửa đất số 203 của ông T28, dài 23,19m; cạnh phía Đông giáp đất lưu không đường liên xã, dài 0,9m; cạnh phía Tây giáp thửa đất số 191 của ông Đ1, dài 0,14m); 04 m² đất lưu không (có kích thước: cạnh phía Bắc giáp đất lưu không ông Đ1 đang sử dụng, dài 4,21m; cạnh phía Nam giáp đất lưu không ông T28 đang sử dụng, dài 4,27m; cạnh phía Đông giáp mương đường liên xã, dài 1,03m; cạnh phía Tây giáp thửa đất số 191 của ông Đ1, dài 0,9m) tại thửa đất số 191, tờ bản đồ số 13, vị trí: xóm Y, xã T, huyện Y cho ông Chu Văn T28 và bà Nguyễn Thị O.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng, lãi suất do chậm thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự trong vụ án.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 20 tháng 9 năm 2023 bị đơn anh Chu Xuân Đ1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Thái Thị H9 kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2023/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An với lý do: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Chu Văn T28 và cả anh chị là sai. Bản đồ (phơi 2008) cũng sai. Tòa án đã không xem xét đến nguồn gốc sử dụng của thửa đất. Thửa đất của anh chị đã được cha mẹ mua và được làm nhà ổn định từ năm 2002, trong lúc phơi 2008 được đo vẽ sau đó 6 năm. Phơi đó sai hoàn toàn so với thực tế của hai thửa đất 203, tờ bản đồ số 13 và số 191, tờ bản đồ 13, đề nghị cấp phúc thẩm hủy kết quả của Tòa án sơ thẩm theo Bản án số 18/DS-ST ngày 18/9/2023; điều tra xét xử lại giữ nguyên hiện trạng thửa đất mà cha mẹ đã cho anh chị; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp sai rồi cấp lại theo đúng quy định Nhà nước.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn anh Chu Xuân Đ1 đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Thái Thị H9, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung kháng cáo, hủy Bản án sơ thẩm. Nguyên đơn ông Chu Văn T28 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị O đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2023/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công thực hiện đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Tại phiên toà phúc thẩm, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về tính có căn cứ, hợp pháp của kháng cáo: Kháng cáo của anh Đ1 và chị H9 đúng thời hạn và đã nộp tiền tạm ứng án phí đầy đủ nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý là đúng quy định. Về nội dung kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2023/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An về cách tuyên và án phí dân sự sơ thẩm.
  • - Về án phí dân sự phúc thẩm: anh Chu Xuân Đ1 và chị Thái Thị H9 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn anh Chu Xuân Đ1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Thái Thị H9 có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, hình thức và nội dung đơn kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Đồng thời, tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã hỏi ý kiến của các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không nhưng các đương sự không thỏa thuận được. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2]. Xét kháng cáo của bị đơn anh Chu Xuân Đ1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Thái Thị H9, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1]. Về nội dung kháng cáo hủy kết quả của Tòa án sơ thẩm theo Bản án số 18/DS-ST ngày 18/9/2023: Tại phiên tòa phúc thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu hủy bản án sơ thẩm với những lý do sau:

  • - Về mặt nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã không xem xét đến nguồn gốc sử dụng của thửa đất, tại thời điểm năm 2008 khi vợ chồng anh Đ1, chị H9 xây móng và bờ bao thì có sự chứng kiến của ông Chu Văn L6 (chủ sử dụng đất cũ) và tại “Biên bản kiểm tra hiện trạng ranh giới, mốc giới, diện tích thửa đất ngày 13/10/2008" thì chị H9 ký nhưng khi đó chủ sử dụng đất đang là bà Thái Thị T30 (mẹ anh Đ1) và bà T30 không ký. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thể hiện quá trình giải quyết vụ án cấp sơ thẩm đã có Công văn số 08/2022/CCTLCC ngày 21/3/2022 đề nghị UBND xã T cung cấp thông tin liên quan nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp. Ngày 31/3/2022, UBND xã T đã có Báo cáo số 05/BC-UBND về nguồn gốc, hiện trạng sử dụng đất nên lời trình bày này của bị đơn là không có cơ sở. Đồng thời, quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đều thừa nhận về nguồn gốc của hai thửa đất hiện đang tranh chấp như sau:

Thửa đất hiện nay ông Chu Văn T28, bà Nguyễn Thị O đang sử dụng là thừa số 203, tờ bản đồ số 13; thửa đất hiện nay anh Chu Xuân Đ1, chị Thái Thị H9 sử dụng là thửa số 191, tờ bản đồ số 13. Về nguồn gốc của các thửa đất đều do UBND xã M giao không đúng thẩm quyền vào năm 2002, khi giao đất có phiếu thu nhưng không ghi rõ diện tích cụ thể của từng thửa đất trong từng phiếu thu. Tại thời điểm năm 2002, UBND xã M giao thửa đất số 203 cho ông Chu Văn L6 và bà Lê Thị Ư, giao thửa đất số 191 cho ông Chu Văn T31 và bà Thái Thị T30 (bố, mẹ đẻ của anh Đ1).

Về quá trình sử dụng đất: Theo chị H9 sau khi được giao đất, năm 2002 bố mẹ chồng chị là ông Chu Xuân T29 và bà Thái Thị T30 đã làm nhà V ba gian nhưng chưa ra ở. Đến năm 2004, bà T30 đã cho vợ chồng chị ra ở riêng tại căn nhà V này, khi đó thửa đất đã có ranh giới với thửa đất của ông Chu Văn L6 (chủ sử dụng đất cũ trước khi chuyển nhượng cho ông Chu Văn T28) nhưng không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh cũng không có tài liệu chứng cứ chứng minh về việc chính quyền địa phương đã giao đất trên thực địa cho ông T29, bà T30 và xác định ranh giới, mốc giới khi ông T29, bà T30 làm nhà. Anh Đ1, chị H9 cho rằng tại thời điểm năm 2008 khi vợ chồng chị xây móng và bờ bao thì có sự chứng kiến của ông L6 nhưng tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm ông L6 cũng không thừa nhận việc ông có chứng kiến xây bờ móng. Các đương sự cũng thừa nhận thửa đất số 203 của ông L6 và bà Ư đã chuyển nhượng cho ông T28, bà O từ trước tới nay ông L6 chỉ trồng cây nông nghiệp, chưa xây dựng bất kỳ công trình gì. Ranh giới bờ tường xây giữa hai thửa đất hiện nay là do anh Đ1 và chị H9 xây dựng nhưng không có tài liệu, chứng cứ về việc trước khi xây dựng đã được chính quyền địa phương giao các ranh giới, mốc giới trên thực địa.

Về sự thể hiện trong các hồ sơ, bản đồ địa chính qua các thời kỳ và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp: Tại đơn kháng các và phiên tòa phúc thẩm, bị đơn và người liên quan kháng cáo cho rằng “Biên bản kiểm tra hiện trạng ranh giới, mốc giới, diện tích thửa đất ngày 13/10/2008” là sai với thực tế nhưng không có cơ sở để chứng minh mà thừa nhận chữ ký trong các “Biên bản kiểm tra hiện trạng ranh giới, mốc giới, diện tích thửa đất ngày 13/10/2008” đúng là của chị H9. Bị đơn cho rằng thời điểm này quyền sử dụng đất đang thuộc về bà T30 nhưng bà T30 không ký vào biên bản nên biên bản này không có giá trị. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị H9 đều thừa nhận, từ thời điểm năm 2004, bà T30 đã cho vợ chồng chị ra ở tại thửa đất số 191, tại thời điểm lập “Biên bản kiểm tra hiện trạng ranh giới, mốc giới, diện tích thửa đất ngày 13/10/2008", chị đang là người thực tế sử dụng đất. Mặt khác, một trong những căn cứ để ngày 27/6/2016 UBND huyện Y cấp GCNQSD đất số CD 753027 cho bà Thái Thị T30 là “Biên bản kiểm tra hiện trạng ranh giới, mốc giới, diện tích thửa đất ngày 13/10/2008”, bà T30 đã nhận được GCNQSD đất này nhưng không khiếu nại gì. Đến năm 2018, chính bà T30 và các anh em ruột của anh Đ1 đã sử dụng GCNQSD đất này để tặng cho vợ chồng anh Đ1, chị H9 thửa đất số 191 nên anh Đ1, chị H9 là chủ sử dụng đất và là người sử dụng đất thực tế từ trước đến nay, việc bà T30 không ký vào “Biên bản kiểm tra hiện trạng ranh giới, mốc giới, diện tích thửa đất ngày 13/10/2008” không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà T30, anh Đ1, chị H9 nên trình bày này của bị đơn là không có cơ sở. Mặt khác, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, có cơ sở để xác định:

  • + Đối với thửa đất số 191, tờ bản đồ số 13: Tại “Biên bản kiểm tra hiện trạng ranh giới, mốc giới, diện tích thửa đất ngày 13/10/2008” thể hiện: thửa đất số 191 của bà T30 có kích thước các cạnh: cạnh phía Bắc giáp đất ông Tăng Đình L7, dài 34,86m; cạnh phía Nam giáp đất ông Chu Văn L6 từ điểm 3 đến 2 có chiều dài là 27,09m; từ điểm 2 đến 1 có chiều dài là 16,75m; cạnh phía Tây giáp đất nông nghiệp, dài 15,64m + 10,16m; cạnh phía Đông giáp mương đường huyện, dài 15,16m; tổng diện tích là 779m², trong đó có 71m² đất lưu không. Tại Bản trích lục bản đồ thửa đất năm 2014 và GCNQSD đất số CD 753027 ngày 27/6/2016 do UBND huyện Y cấp cho bà Thái Thị T30 cũng thể hiện diện tích, kích thước các cạnh đúng như trong “Biên bản kiểm tra hiện trạng ranh giới, mốc giới, diện tích thửa đất ngày 13/10/2008”. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngày 30/7/2018, bà T30 đã lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh Đ1, chị H9; ngày 31/8/2018, các đồng thừa kế của ông Chu Xuân T29 đã lập “Văn bản phân chia tài sản thừa kế”, để lại toàn bộ cho anh Chu Xuân Đ1. Ngày 22/11/2018, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đại huyện Y đã đăng ký biến động quyền sử dụng đất cho anh Chu Xuân Đ1, chị Thái Thị H9 trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD 753027. Như vậy, thửa đất số 191, tờ bản đồ số 13 của anh Đ1 và chị H9 được cấp GCNQSD đất đúng theo hồ sơ địa chính và biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất kèm theo hồ sơ.
  • + Đối với thửa đất số 203, tờ bản đồ số 13: tại “Biên bản kiểm tra hiện trạng ranh giới, mốc giới, diện tích thửa đất ngày 13/10/2008” thể hiện: thửa đất số 203 của ông L6, bà Ư có kích thước các cạnh: cạnh phía Bắc giáp đất ông Chu Xuân Đ1, dài 27,09m; cạnh phía Nam giáp đất ông Chu Xuân H10, dài 6,48m + 30,49m; cạnh phía Tây giáp đất nông nghiệp, dài 16,81m; cạnh phía Đông giáp mương đường huyện, dài 18,27m; tổng diện tích là 546m2, trong đó có 78m² đất lưu không. Tại Trích lục bản đồ địa chính thửa đất năm 2014 tuy vẫn thể hiện thửa đất số 203 của ông L6, bà Ư có tổng diện tích là 546m², trong đó có 78m² đất lưu không nhưng lại thể hiện kích thước các cạnh như sau: cạnh phía Bắc giáp thửa đất số 191, dài 34,32m; cạnh phía Nam giáp thửa đất số 219, dài 9,72m + 38,49m; cạnh phía Tây giáp thửa đất số 202, dài 25,23m; cạnh phía Đông giáp mương đường huyện, dài 27,41m (chênh lệch kích thước cạnh so với “Biên bản kiểm tra hiện trạng ranh giới, mốc giới, diện tích thửa đất ngày 13/10/2008”) nên tại GCNQSD đất số CD 753045 ngày 27/6/2016 mà ông L6, bà Ư được UBND huyện Y cấp cũng như tại GCNQSD đất số CE 693817 ngày 25/11/2016 mà ông T28, bà O được UBND huyện Y cấp đều thể hiện thửa đất số 203 có tổng diện tích là 546m², trong đó có 78m² đất lưu không nên còn lại là 468m² (400m2 đất ở và 68m² đất trồng cây lâu năm), nhưng lại thể hiện kích thước các cạnh giống như trong Trích lục bản đồ địa chính thửa đất năm 2014.

Tại Công văn số 1365/UBND-TNMT ngày 14/7/2022 của UBND huyện Y đã xác định: Qua kiểm tra hồ sơ cấp giấy CNQSD đất và sơ đồ kỹ thuật khi đo đạc bản đồ địa chính năm 2008 thì bản trích lục thửa đất do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng lập năm 2014 và sơ đồ thửa đất tại trang 3 thể hiện tại các GCN đã cấp cho ông L6, bà Ư, ông T28, bà O có sự sai lệch về kích thước. Lý do: Bản trích lục và sơ đồ thửa đất in tại trang 3 của GCN số CD 753045 và số CE 693817 có sự sai lệch khi xử lý hồ sơ kỹ thuật trích lục thửa đất có sơ suất nên thể hiện sai kích thước cạnh thửa đất dẫn đến sơ đồ thửa đất tại trang 3 GCN có sai sót về kích thước cạnh. Còn về diện tích được cấp GCN số CD 753045 của ông Chu Văn L6 và bà Lê Thị Ư và GCN số CE 693817 của ông Chu Văn T28 và bà Nguyễn Thị O đối với thửa đất số 203, tờ bản đồ số 13, diện tích thửa đất 546m², diện tích được cấp GCN là 468m² (400m² đất ở + 68m² CLN, có 78m² đất lưu không đường, không được cấp GNC) là đúng theo hồ sơ đề nghị cấp GCN. Vì vậy, UBND huyện đề nghị Toà án nhân dân huyện Yên Thành căn cứ hồ sơ địa chính thửa đất để xác định ranh giới giữa các hộ gia đình, sau khi có quyết định giải quyết của Toà án nhân dân cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành cấp đổi đối với thửa đất số 203, tờ bản đồ số 13 của ông Chu Văn T28 và bà Nguyễn Thị O theo đúng quy định. Như vậy, tuy tại trang 3 của GCNQSD đất số CE 693817 do UBND huyện Y cấp ngày 25/11/2016 đứng tên ông Chu Văn T28, bà Nguyễn Thị O thể hiện sai kích thước cạnh nhưng đây chỉ là sai sót về mặt số liệu, không sai sót về diện tích, UBND huyện Y cũng đã có ý kiến là sẽ căn cứ vào quyết định của Toà án để tiến hành chỉnh lý biến động trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp nên đây không thuộc các trường hợp phải thu hồi, hủy bỏ GCNQSD đất theo quy định tại Luật Đất đai 2013 và Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn cũng khẳng định nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả lại đủ diện tích như trong GCNQSD đất là 546m² (trong đó có 78m² đất lưu không) nên khi xét xử sơ thẩm, cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án để chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn tháo dỡ tài sản gắn liền với phần diện tích đất lấn chiếm (gồm bờ rào, sân, mái tôn, cổng) và buộc bị đơn trả lại 12m² đất ở; 04m² đất lưu không là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 166, 170, 203 Luật Đất đai; Điều 175, 176 Bộ luật Dân sự nên không có cơ sở để chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn là hủy kết quả của Tòa án sơ thẩm theo bản án số 18/DS-ST ngày 18/9/2023. Tuy nhiên, khi chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn tháo dỡ tài sản gắn liền với phần diện tích đất lấn chiếm (gồm bờ rào, sân, mái tôn, cổng) thì bản án sơ thẩm lại không tuyên chiều dài, kích thước cụ thể của những tài sản này là thiếu sót nên cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về cách tuyên tại phần này để đảm bảo công tác thi hành án sau này.

  • - Về mặt tố tụng: Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm vì cho rằng cấp sơ thẩm đã có những vi phạm thủ tục tố tụng như sau:
    • + Thứ nhất, tại đơn khởi kiện cũng như quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất. Theo quy định tại Điều 202, 203 Luật Đất đai và Điều 88 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ thì tranh chấp này phải được UBND cấp xã tiến hành hoà giải trước khi khởi kiện đến Toà án. Thành phần Hội đồng hoà giải bao gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân là Chủ tịch Hội đồng; đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn; tổ trưởng Tổ dân phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp đối với khu vực nông thôn; đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó; cán bộ địa chính, cán bộ Tư pháp xã, phường, thị trấn. Tùy từng trường hợp cụ thể, có thể mời đại diện Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên cộng sản H12.

Tuy nhiên, tại “Biên bản hoà giải ngày 20/7/2021" do UBND xã T thực hiện, về thành phần tham gia có ghi tên ông Hoàng Đoàn T32, chức vụ: Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc; ông Tạ Quốc H11, chức vụ: Chủ tịch Hội N3; bà Nguyễn Thị T33, chức vụ: Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ; ông Trần Đình K, chức vụ: Chủ tịch Hội Cựu chiến binh; ông Cao Xuân T34, chức vụ: Bí thư Đoàn thanh niên; ông Nguyễn Văn T35, chức vụ: Công chức địa chính – Xây dựng nhưng phần cuối “Biên bản hoà giải” không có chữ ký của các ông bà này mà lại có chữ ký của 3 người không có tên ở phần đầu biên bản là các ông Vũ Văn T36, Đinh Trọng M và Tăng Ngọc T37 nên thành phần tiến hành hoà giải chưa đúng quy định.

Đối với nội dung kháng cáo này, tại Công văn số 16/CV-UBND ngày 23/8/2024 của UBND xã T đã khẳng định: Tại buổi hoà giải ngày 20/7/2021 do UBND xã T thực hiện, đều có sự tham gia của các ông, bà: Hoàng Đoàn T32, chức vụ: Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc; ông Tạ Quốc H11, chức vụ: Chủ tịch Hội nông dân; bà Nguyễn Thị T33, chức vụ: Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ; ông Trần Đình K, chức vụ: Chủ tịch Hội cựu chiến binh; ông Cao Xuân T34, chức vụ: Bí thư Đoàn thanh niên; ông Nguyễn Văn T35, chức vụ: Công chức địa chính – xây dựng. Lý do không ký là khi buổi hòa giải kết thúc thông thường để nguyên đơn, bị đơn và Bí thư, xóm trưởng ký trước, còn T38 các ban ngành, đoàn thể, công chức ký sau nhưng sau đó thư ký quên dục các đồng chí tham gia buổi hòa giải ký. Đồng thời, tại buổi hoà giải ngày 20/7/2021 do UBND xã T thực hiện, đều có sự tham gia của các ông Vũ Văn T36, Đinh Trọng M và Tăng Ngọc T37 vì đó là Bí thư, xóm trưởng của xóm nơi xảy ra tranh chấp và đồng chí Đinh Trọng M là Xã đội trưởng, lý do không ghi tên 3 đồng chí này vào là do đồng chí thư ký quên ghi thành phần và đã hết dòng để ghi. Như vậy, căn cứ vào nội dung Công văn số 16/CV-UBND ngày 23/8/2024 của UBND xã T thì có cơ sở để xác định thành phần tham gia buổi hòa giải ngày 20/7/2021 do UBND xã T tổ chức đã đảm bảo theo đúng quy định tại Điều 202, 203 Luật Đất đai và Điều 88 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ nên không có cơ sở để chấp nhận nội dung kháng cáo này của anh Đ1 và chị H9.

  • + Thứ hai, quá trình giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm đưa ông Chu Văn L6 (là chủ sử dụng đất cũ của thửa đất số 203) vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không đưa bà Thái Thị T30 (là chủ sử dụng đất cũ của thửa đất số 191) vào tham gia tố tụng với với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm tố tụng, Hội đồng xét xử xét thấy: như đã phân tích ở trên, đối với thửa đất số 203 thì Bản trích lục thửa đất do Văn phòng lập năm 2014 và sơ đồ thửa đất thể hiện tại trang 3 của GCNQSD đất số CD 753045 ngày 27/6/2016 mà ông L6, bà Ư được UBND huyện Y cấp cũng như tại GCNQSD đất số CE 693817 ngày 25/11/2016 mà ông T28, bà O được UBND huyện Y cấp đều có sự sai lệch về kích thước cạnh. Còn đối với thửa đất số 191, tờ bản đồ số 13 thì GCNQSD đất số CD 753207 ngày 27/6/2016 do UBND huyện Y cấp cho bà T30 và sau này được đăng ký biến động quyền sử dụng đất cho anh Đ1 và chị H9 đều đúng theo hồ sơ địa chính và biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất kèm theo hồ sơ. Mặt khác, thửa đất bị đơn đang sử dụng có nguồn gốc của bà T30 nhưng bà T30 đã lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất cho ông Đ1, việc chuyển nhượng đã hoàn thành, người nhận chuyển nhượng đã được cấp GCNQSD đất nên trong quá trình giải quyết vụ án không cần thiết phải đưa bà T30 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của bà T30. Do đó, việc cấp sơ thẩm chỉ đưa ông L6, bà Ư vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không đưa bà T30 vào tham gia là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự nên không chấp nhận nội dung kháng cáo này của anh Đ1, chị H9.

[2.2]. Về nội dung kháng cáo điều tra xét xử lại giữ nguyên hiện trạng thửa đất mà cha mẹ đã cho: Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 15/4/2024, chị Thái Thị H9 đã đề nghị Tòa án tạm ngừng phiên tòa để thẩm định, định giá lại đối với thửa đất số 191 và thửa đất số 203, tờ bản đồ số 13 tại xóm Y, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An và các tài sản trên phần diện tích đất tranh chấp. Tòa án đã ra “Thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí thẩm định, định giá”, chị H9 đã nhận được thông báo này nhưng từ đó đến nay không nộp tiền, tại các phiên tòa phúc thẩm sau đó, chị H9 khẳng định chị vẫn không nộp tiền do hoàn cảnh kinh tế gia đình hiện nay gặp nhiều khó khăn. Như vậy, chị H9 yêu cầu Tòa án tiến hành điều tra xác minh lại nhưng không nộp tạm ứng chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật, ngoài ra chị H9 cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì khác chứng minh việc điều tra, thu thập chứng cứ của cấp sơ thẩm là không khách quan, toàn diện nên không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo này của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2.3]. Về nội dung kháng cáo hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp sai rồi cấp lại theo đúng quy định Nhà nước:

Như đã phân tích ở trên, GCNQSD đất đã được cấp không thuộc các trường hợp phải thu hồi, hủy bỏ GCNQSD đất theo quy định tại Luật Đất đai 2013 và Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai. Đồng thời, tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đều thừa nhận quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, không có đương sự nào có yêu cầu hủy GCNQSD đất đã được cấp, đến tại cấp phúc thẩm mới yêu cầu là vượt quá phạm vi xét xử phúc thẩm nên cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết nội dung kháng cáo này của anh Đ1, chị H9 theo quy định của pháp luật.

Như vậy, bị đơn anh Chu Xuân Đ1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Thái Thị H9 kháng cáo nhưng không có cơ sở nên không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: bản án sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Chu Văn T28 về việc buộc ông Chu Xuân Đ1 và bà Thái Thị H9 trả lại 11m² đất lấn chiếm nhưng không buộc ông T28 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần không được chấp nhận là thiếu sót, không đúng quy định tại khoản 1, 4 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14; cấp phúc thẩm sửa lại Bản án sơ thẩm, buộc nguyên đơn ông Chu Văn T28 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với 11m² đất tương ứng thành tiền là 11.000.000 đồng nên án phí dân sự sơ thẩm ông T28 phải chịu là 550.000 đồng.

Về án phí dân sự phúc thẩm: kháng cáo của anh Chu Xuân Đ1 và chị Thái Thị H9 không được chấp nhận nên anh Đ1, chị H9 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: khoản 1, khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự:

  • - Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Chu Xuân Đ1 và kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Thái Thị H9.
  • - Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2023/DS-ST ngày 18/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An về cách tuyên và án phí dân sự sơ thẩm.

2. Căn cứ vào Điều 175, 176 của Bộ luật Dân sự; Điều 203, 170 của Luật Đất đai; Điều 147, 157, 158, 165, 166, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Chu Văn T28.

2.1. Buộc ông Chu Xuân Đ1 và bà Thái Thị H9 tháo dỡ tài sản gắn liền với đất lấn chiếm (gồm: 01 bờ rào xây gạch táp lô nằm dài 22,8m, cao 1,46m, diện tích 33,288m²; sân xi măng có diện tích 8,5m²; trụ cổng cao 3,97m và mái tôn thường dài 13m, rộng 0,5m, diện tích 6,5m²) và trả 12m² đất ở (có kích thước: cạnh phía Bắc giáp thửa đất số 191 của ông Đ1, dài 22,88m; cạnh phía Nam giáp thửa đất số 203 của ông T28, dài 23,19m; cạnh phía Đông giáp đất lưu không đường liên xã, dài 0,9m; cạnh phía Tây giáp thửa đất số 191 của ông Đ1, dài 0,14m); 04 m² đất lưu không (có kích thước: cạnh phía Bắc giáp đất lưu không ông Đ1 đang sử dụng, dài 4,21m; cạnh phía Nam giáp đất lưu không ông T28 đang sử dụng, dài 4,27m; cạnh phía Đông giáp mương đường liên xã, dài 1,03m; cạnh phía Tây giáp thửa đất số 191 của ông Đ1, dài 0,9m) tại thửa đất số 191, tờ bản đồ số 13, vị trí: xóm Y, xã T, huyện Y cho ông Chu Văn T28 và bà Nguyễn Thị O.

Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Chu Văn T28 buộc ông Chu Xuân Đ1 và bà Thái Thị H9 trả 11m² đất lấn chiếm.

2.2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc ông Chu Xuân Đ1 phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng).

Ông Chu Văn T28 phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 550.000 đồng (năm trăm năm mươi nghìn đồng) nhưng được khấu trừ trong 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) số tiền tạm ứng án phí ông T28 đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0010884 ngày 19 tháng 10 năm 2021 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thành. Ông Chu Văn T28 được nhận lại: 1.450.000 đồng.

3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Anh Chu Xuân Đ1 và chị Thái Thị H9 mỗi người phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà anh Đ1, chị H9 đã nộp theo các Biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số 0002278 và 0002277 ngày 25/10/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thành.

4. Những quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND huyện Yên Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2024/DS-PT ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về đòi lại đất lấn chiếm.

  • Số bản án: 104/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về đòi lại đất lấn chiếm.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đất đai giữa ông T và ông Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger