|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH Bản án số: 103/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16-9-2024 V/v Tranh chấp ly hôn. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cái Thị Minh Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Thanh Nhàn
- Ông Thái Văn Lộc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà là thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh: Bà Nguyễn Thị Huệ Thư - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 458/2024/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 80/2024/QĐST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Chị Phạm Thị N, sinh năm 1985; trú tại: Số C đường B, KP N, P N, TP T, tỉnh Tây Ninh
- * Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1973; trú tại: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh.
Chị N có đơn xin vắng mặt, anh H vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 15 tháng 7 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phạm Thị N trình bày:
Chị N và anh Nguyen Hoàng H chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2020, đến năm 2021 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Cuộc sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, do anh H thường xuyên uống rượu về nhà đuổi mẹ con chị đi, chưởi bới nhiề. Hiện chị và anh H đã sống ly thân hơn 5 tháng nay. Chị xác định tình cảm không còn, không quan tâm lẫn nhau, ai cũng có cuộc sống riêng không liên quan với nhau, chi N xin ly hôn.
Về con chung: Có 01 con chung, tên Phan Thị Kiều T, sinh ngày 09-02-2021, chị N xin nuôi con không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Hoàng H không đến Tòa, không có lời trình bày, vắng mặt không lý do.
Tại phiên toà:
Tại tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Đề nghị tuyên:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Phan Thị N1 đối với anh Nguyễn Hoàng H.
Về quan hệ con chung: Có 01 con chung, tên tên Phan Thị Kiều T, sinh ngày 09-02-2021. Giao con chung cho chị N1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục. Ghi nhận chị N1 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung, chị N1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị N1 phải chịu án phí sơ thẩm hôn nhân theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Phạm Thị N có đơn xin vắng mặt. Anh Nguyễn Hoàng H là bị đơn trong vụ án vắng mặt không lý do. Anh H có nhận các văn tố tụng của Tòa án tống đạt và giấy triệu tập đương sự mời anh H lên Tòa làm việc, anh H biết Toà án đã thụ lý giải quyết vụ án, hiện anh đang có mặt tại địa phương, nhưng anh không đến Toà cũng như không có lời khai về vụ án, Tòa án có tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị N và anh H là phù hợp.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị N, anh H chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2020 đến năm 2021 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, chị N có đơn xin vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên lời trình bày: Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, chị N đã ly thân hơn 5 tháng nay. Nay tình cảm không còn, không quan tâm đến nhau, ai cũng có cuộc sống riêng cho mình, không thể hàn gắn được chị N xin ly hôn.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị N, Hội đồng xét xử thấy rằng, vợ chồng chung sống cần có sự gần nhau, chia sẻ, đồng cảm, quan tâm chăm sóc, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau và cùng có trách nhiệm với gia đình, con cái. Trong mối quan hệ vợ chồng của chị N, anh H không còn sự chia sẻ và đồng cảm, không hiểu nhau, không còn tình cảm, không hạnh phúc, tanh, chị đã sống ly thân không thể hàn gắn mối quan hệ vợ chồng được. Hiện chị N, anh H không còn tình cảm với nhau, không thương yêu nhau nên yêu cầu xin ly hôn của chị N là có căn cứ chấp nhận.
Anh H không đến Tòa, không có lời trình bày, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa cho anh H, anh H có nhận được văn bản của Tòa nhưng anh không đến Tòa là từ bỏ quyền lợi và nghĩa vụ của mình, không muốn hàn gắn mối quan hệ vợ chồng với chị N nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.
[3] Về con chung: Có 01 con chung, tên Phạm Thị Kiều T1, sinh ngày 09-02-2021, chị N xin nuôi con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Hiện cháu T1 đang sống với chị N, cháu còn quá nhỏ cần giao cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng chăm giáo giáo dục là phù hợp. Ghi nhận chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Đối với đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[6] Về án phí: Chị N phải chịu án phí theo quy định tại điển a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 146, 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị N đối với anh Nguyễn Hoàng H. Chị Phạm Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng H.
- Về con chung: Có 01 con chung, tên Phạm Thị Kiều T1, sinh ngày 09-02-2021. Giao con chung cho chị N trực tiếp muôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ghi nhận chị N không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung; nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Phạm Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị N đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009552 ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, chị N đã nộp đủ án phí.
“Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Cái Thị Minh Tâm |
Bản án số 103/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 103/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị N yêu cầu ly hôn với anh H
