|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 103/2024/HS-ST
Ngày 05 tháng 8 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Thanh Trà
Ông Phạm Xoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Vĩnh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 29/7/2024 và ngày 05/8/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Phạm Duy N.
- Nguyễn Mạnh Q.
- Lê Hoàng Bửu P.
Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày: 18/8/1996, tại tỉnh Quảng Nam; Nơi thường trú: Tổ E, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Chỗ ở: Số D đường Đ, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: ông Phạm Đ (sinh năm 1968), mẹ: bà Nguyễn Thị Kim V (sinh năm 1971); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 02. Vợ: H.Nga Ê Ban (sinh năm 1993, đã ly hôn), có 01 con, sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2023/HSST ngày 23/11/2023 của Toà án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP.Đà Nẵng, xử phạt Phạm Duy N 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Nhà tạm giữ Công an quận H. Có mặt tại phiên tòa.
Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày: 23/9/2006, tại thành phố Đà Nẵng (khi phạm tội bị cáo 16 tuổi 7 tháng 22 ngày). Nơi ĐKTT và chỗ ở: K đường H, tổ C, phường H, quận T, TP.Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: Lớp 10/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Mạnh C (sinh năm: 1980) và bà Phạm Thị Thu T (sinh năm 1981). Nhà có 03 chị em, bị cáo là con thứ 02.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/5/2023 đến ngày 23/5/2023, được huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ số 07 ngày 23/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng. Bị cáo hiện đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, có mặt tại phiên tòa.
Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày: 11/11/2008, tại thành phố Đà Nẵng (khi phạm tội bị cáo 14 tuổi 6 tháng 03 ngày). Nơi thường trú và chỗ ở: K đường L, phường C, quận T, TP .. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: Lớp 10/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Lê Hoàng Bửu L (sinh năm 1982) và bà Trần Thị Ngọc H (sinh năm 1982). Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 01.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/5/2023 đến ngày 23/5/2023, được huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ số 08 ngày 23/5/2023, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng. Bị cáo hiện đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa của bị cáo Nguyễn Mạnh Q: Ông Bùi Xuân N1, sinh năm 1980 – Luật sư Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Đà Nẵng. (có mặt).
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Mạnh Q: Bà Phạm Thị Thu T, sinh năm 1981. Chỗ ở: K đường H, tổ C, phường H, quận T, TP Đà Nẵng. (có mặt).
* Người bào chữa của bị cáo Lê Hoàng Bửu P: Bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1976 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Đ. (có mặt).
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Hoàng Bửu P: Bà Trần Thị Ngọc H, sinh năm 1982. Trú tại: K đường L, phường C, quận T, TP Đà Nẵng. (có mặt).
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Viết D, sinh năm 1995. Địa chỉ: K P, tổ C, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. (có mặt).
- Ông Tống Phước T1, sinh năm 1989. Địa chỉ: A N, tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt).
- Ông Hồ Ngọc C1, Sinh năm 1994. Địa chỉ: D T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. (có mặt).
- Ông Trần Khánh Thiên Q1, sinh năm 2001. Địa chỉ: K H, tổ B, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt).
- Bà Phan Thị Tú T2, sinh năm 1996. Địa chỉ: K T, Tổ I, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt).
3. Người chứng kiến:
- Ông Trần Nhật L1, sinh năm 1992. Địa chỉ: Tổ C, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt).
- Ông Bạch Văn P1, sinh năm 1997. Địa chỉ: Tổ B, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thông qua các mối quan hệ ngoài xã hội, Phạm Duy N biết Nguyễn Mạnh Q và Lê Hoàng Bửu P cần tìm việc làm để có tiêu xài cá nhân và ma túy sử dụng, nên N thuê Q và P đi bán trái phép ma tuý cho N từ ngày 11/5/2023, nguồn gốc ma tuý là do N cung cấp. N giao ma túy cho Q và P cất giữ, N sẽ liên lạc với Q và P đi giao ma tuý cho khách của N qua tài khoản T3 (tên tài khoản X), N đưa số điện thoại và địa chỉ người mua ma tuý rồi cả hai đến địa điểm đã hẹn trước đó để gọi cho người mua ra lấy ma túy, tiền bán ma tuý do N và người mua tự thoả thuận và trả trực tiếp cho N. Sau mỗi lần giao ma túy thành công thì N trả tiền công cho Q và P từ 400.000 đến 500.000 đồng/lần vào tài khoản số 0985104159 của Nguyễn Mạnh Q mở tại Ngân hàng M, qua tài khoản số 02627539999 mở tại ngân hàng T4, do N mượn của Nguyễn Viết D (sinh năm: 1995; trú: K P, phường H, quận L, TP Đà Nẵng) để sử dụng. Tổng số tiền N đã chuyển khoản cho Q và P là 4.400.000 đồng (trong đó: 2.900.000 đồng là tiền công Q và P đi giao ma tuý cho N, 1.500.000 đồng là tiền N cho Q và P mua điện thoại), cụ thể:
- Lần 01: Tối ngày 11/5/2023, Q và P đến đường H, phường A, quận T, TP Đà Nẵng để nhận của N một gói ma túy không rõ số lượng. Sau đó, Q và P đi giao ma túy cho người mua, nhưng không nhớ rõ thời gian, địa điểm, số lượng cụ thể. Số ma tuý còn dư, Q và P mang đến đặt dưới viên gạch ở đường N, phường A, quận T, TP Đà Nẵng rồi đi về, N trả tiền công cho Q và P 1.100.000 đồng.
- Lần 02: Tối ngày 13/5/2023, Q và P đến khu vực bờ hồ đường N, TP Đà Nẵng, nhận của N 01 gói ma túy không rõ số lượng để dưới gốc cây, rồi đi giao ma túy cho một thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch, không nhớ rõ địa điểm và số lượng cụ thể). Số ma tuý còn dư, Q và P mang đến để lại chỗ cũ rồi đi về, N trả tiền công cho Q và P 1.800.000 đồng.
Đến khoảng 20h00' ngày 14/5/2023, Q điều khiển xe mô tô biển số 43G1-519.61 chở P đến gốc cây tại vỉa hè đường N, TP ., P xuống xe lấy 01 gói ma túy (gồm: 32 viên thuốc lắc, 08 gói ketamine và 02 gói nilong chưa qua sử dụng) mà N cất giấu trước đó, rồi đi giao ma tuý cho N, các lần cụ thể:
- Lần 03: Khoảng 21h00' ngày 14/5/2023, Q và P đi giao 10 viên ma túy thuốc lắc, 01 gói ma tuý ketamine cho một nam thanh niên tên C1 (không rõ nhân thân, lai lịch) tại trước số nhà D đường T, phường T, quận H, TP Đà Nẵng.
- Lần 04: Khoảng 21h45' cùng ngày, N yêu cầu Q và P đi giao 04 viên ma túy thuốc lắc, 01 gói ma tuý ketamine cho một nam thanh niên không rõ lai lịch trên đường L, phường H, quận C, TP Đà Nẵng.
- Lần 05: Khoảng 23h45' cùng ngày, N yêu cầu Q và P đến trước số nhà D đường T, phường T, quận H, TP Đà Nẵng, để chờ giao 18 viên ma tuý thuốc lắc, 06 gói ma tuý ketamine cho khách thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T5 bắt quả tang.
Ngoài ra, Phạm Duy N còn trực tiếp bán ma tuý thuốc lắc và ketamine cho Tống Phước T1 (sinh ngày: 01/8/1989; trú: A N, phường H, quận L, TP Đà Nẵng) 06 lần, T1 sử dụng tài khoản số 0041000176526 của T1 mở tại ngân hàng V1 để chuyển trả tiền mua ma túy cho N qua các tài khoản số: 02627539999, mang tên Nguyễn Viết D mở tại ngân hàng T4 và tài khoản số: 1033323979 mang tên Phạm Duy N mở tại ngân hàng V1 theo yêu cầu của N, cụ thể:
- Lần 01: Khoảng 18h33′ ngày 02/5/2023, Nam bán 3.900.000 đồng ma tuý cho T1 và T1 đã chuyển số tiền trên cho N vào tài khoản số 02627539999 mang tên Nguyễn Viết D mở tại ngân hàng T4.
- Lần 02: Khoảng 16h25' ngày 14/5/2023, Nam bán 4.500.000 đồng ma tuý cho T1 và T1 đã chuyển số tiền trên cho N vào tài khoản số 02627539999 mang tên Nguyễn Viết D mở tại ngân hàng T6.
- Lần 03: Khoảng 23h30' ngày 28/6/2023, Nam bán 4.700.000 đồng ma tuý cho T1 và T1 đã chuyển số tiền trên cho N vào tài khoản số 1033323979 mang tên Phạm Duy N mở tại ngân hàng V1.
- Lần 04: Khoảng 22h24' ngày 30/6/2023, Nam bán 4.700.000 đồng ma tuý cho T1 và T1 đã chuyển số tiền trên cho N vào tài khoản số 1033323979 mang tên Phạm Duy N mở tại ngân hàng V1.
- Lần 05: Khoảng 19h12' ngày 11/7/2023, Nam bán 3.200.000 đồng ma tuý cho T1 và T1 đã chuyển số tiền trên cho N vào tài khoản số 1033323979 mang tên Phạm Duy N mở tại ngân hàng V1.
- Lần 06: Khoảng 20h43' ngày 23/7/2023, Nam bán 2.000.000 đồng ma tuý cho T1 và T1 đã chuyển số tiền trên vào tài khoản số 1033323979 mang tên Phạm Duy N mở tại ngân hàng V1.
Kết quả thử test, Nguyễn Mạnh Q dương tính với chất ma tuý tổng hợp.
* Vật chứng thu giữ:
- - Thu giữ trong quần lót của P:
- 01 gói nilong kích thước khoảng (6x9,5)cm, bên trong chứa: 03 gói nilong kích thước (4x4)cm chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 gói nilong kích thước (2,5x2,5) cm chứa tinh thể rắn màu trắng, thu giữ trong quần lót của P.
- 01 gói nilong kích thước (4x7,5) cm, bên trong chứa: 08 viên nén màu nâu đỏ; 01 gói nilong kích thước (4×4)cm bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng (đã niêm phong, ký hiệu A).
- - Thu giữ trong túi quần bên phải của P: 01 gói nilong kích thước (4x7,5)cm, bên trong chứa: 05 viên nén màu nâu đỏ; 01 gói nilong kích thước (4×4)cm bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng, (đã niêm phong, ký hiệu B).
- - Thu giữ trong túi áo khoác bên phải của P: 01 gói nilong kích thước (4×4)cm bên trong chứa 05 viên nén màu xanh, 02 gói nilong chưa qua sử dụng, (đã niêm phong, ký hiệu C).
- - 01 điện thoại di động màu vàng, có chữ Iphone, không gắn sim, số imei: 353810089969146 (của Q).
- - 01 điện thoại di động màu đen, có chữ Iphone, gắn sim 0985.104.xxx, số imei: 350401982333284 (của P).
- - 01 xe mô tô Honda Airblade, màu đen-vàng, biển số 43G1 - 519.61, số khung: RLHJK1403NZ249085, số máy: JK14E0118489, dung tích xi lanh 125cm³.
- - Trích sao nội dung tin nhắn trong điện thoại Iphone của Q từ ứng dụng Telegram tên tài khoản Xyz Accc.
- - Trích sao lịch sử giao dịch của tài khoản số 02627539999 của Nguyễn Viết D mở tại ngân hàng T4.
- - Trích sao lịch sử giao dịch của tài khoản số 0041000176526 của Tống Phước T1 (sinh ngày: 01/8/1989; trú: A N, phường H, quận L, TP Đà Nẵng) mở tại ngân hàng V1.
- - Trích sao lịch sử giao dịch của tài khoản số [...] của Hồ Ngọc C1 (sinh ngày: 20/10/1994; trú: D T, phường H, quận L, TP.Đà Nẵng) mở tại Ngân hàng V2.
- - Trích sao lịch sử giao dịch của tài khoản số 0985104159 của Nguyễn Mạnh Q mở tại Ngân hàng M.
* Theo Bản Kết luận giám định số 421/KLMT-KTHS ngày 23/5/2023, của Phòng K Công an T5, kết luận:
- Mẫu ký hiệu A được chia thành 02 mẫu như sau: 08 viên nén màu đỏ ký hiệu A1, tinh thể rắn màu trắng trong 03 gói nilong kích thước (4x4)cm và trong 02 gói nilong kích thước (2,5x2,5)cm ký hiệu A2; mẫu ký hiệu B được chia thành 02 mẫu như sau: 05 viên nén màu đỏ ký hiệu B1, tinh thể rắn màu trắng trong 01 gói ni lông ký hiệu B2.
- Các viên nén màu đỏ ký hiệu A1, B1 và các viên nén màu xanh ký hiệu C gửi giám định là ma túy loại MDMA; khối lượng mẫu A1: 2,852 gam; khối lượng mẫu B1: 1,790 gam; khối lượng mẫu C: 1,794 gam.
- Tinh thể rắn màu trắng ký hiệu A2, B2 gửi giám định là ma túy, loại ketamine; khối lượng mẫu A2: 6,847 gam; khối lượng mẫu B2: 1,847 gam.
Kèm theo Kết luận giám định này có: 03 bì giấy niêm phong đựng mẫu giám định và toàn bộ vỏ bao gói mẫu hoàn trả.
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 5 của Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ, tính tỉ lệ phần trăm khối lượng ma túy trong vụ án là: (6,436/30+8,694/100) x 100% = 30,15% dưới 100%. Do đó, tổng khối lượng 02 chất ma túy (MDMA và Ketamine) của Q và P mua bán thuộc trường hợp quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra, các bị can Nguyễn Mạnh Q và Lê Hoàng Bửu P thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của Q và P phù hợp với vật chứng thu giữ, kết quả giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bị can Phạm Duy Nam chối tội, khai không quen biết Q và P; không thừa nhận việc đã giao số ma tuý trên và thuê Q và P đi giao ma tuý; không thừa nhận việc mượn số tài khoản của D để chuyển tiền cho Q và P, nhận tiền của Tống Phước T1 chuyển mua ma túy 02 lần; nhận tiền của Tống Phước T1 chuyển mua ma túy 04 lần tài khoản số: 1033323979 mang tên Phạm Duy N mở tại ngân hàng V1 và không thừa nhận việc đã bán ma túy cho Tống Phước T1 06 lần.
* Về xử lý vật chứng:
- - Kết quả điều tra xác định xe mô tô biển số 43G1 - 519.61 của chị Phan Thị Tú T2 (sinh năm: 1996, trú: Tổ I, phường H, quận C, TP Đà Nẵng, là chị họ của P). Chị T2 gửi xe ở nhà P rồi đi làm, P tự ý lấy để sử dụng, chị T2 không biết việc P sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội, nên Cơ quan CSĐT Công an quận H xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho chị T2 là có căn cứ.
- - Chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, TP Đà Nẵng bảo quản trong giai đoạn xét xử: 02 gói nilong chưa qua sử dụng; 01 điện thoại di động màu vàng, có chữ Iphone, không gắn sim, số imei: 353810089969146; 01 điện thoại di động màu đen, có chữ Iphone, gắn sim 0985.104.xxx, số imei: 350401982333284; 03 bì giấy niêm phong đựng mẫu giám định và toàn bộ vỏ bao gói mẫu hoàn trả theo Kết luận giám định số 421/KLMT-KTHS ngày 23/5/2023, của Phòng K Công an T5.
- - Lưu giữ tại hồ sơ vụ án: Toàn bộ vật chứng còn lại đã thu giữ trên.
* Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Phạm Duy N; Nguyễn Mạnh Q; Lê Hoàng Bửu P theo Cáo trạng số 73/CT-VKS ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng và đề nghị:
- Về hình phạt chính:
- Căn cứ: các điểm a, b, e, p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Duy N từ 10 (mười) năm đến 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù tại Bản án số 94/2023/HS-ST ngày 23/11/2023 của Toà án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là từ 12 năm 06 tháng đến 13 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02.8.2023.
- Căn cứ: điểm a, b, p khoản 2 Điều 251, điểm s, r, t khoản 1 Điều 51 và các Điều 90, 91 và 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh Q từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng đến 06 (sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ: điểm a, p khoản 2 Điều 251; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 và các Điều 90, 91 và 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Hoàng Bửu P từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu tiêu hủy: 2,160 gam mẫu A1; 6,125 gam mẫu A2 ; 1,443 gam mẫu B1; 1,481 gam mẫu B2 và 1,430 gam mẫu C còn lại sau giám định (theo Kết luận giám định số 421/KLMT-KTHS ngày 23/5/2023 của Phòng K Công an T5) và toàn bộ vỏ bao gói mẫu, 02 gói nilong chưa qua sử dụng; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động màu vàng, có chữ Iphone, không gắn sim, số imei: 353810089969146 và 01 điện thoại di động màu đen, có chữ Iphone, gắn sim 0985.104.xxx, số imei: 350401982333284.
- Về biện pháp tư pháp :
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự.
- Buộc bị cáo Phạm Duy N phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 3.000.000₫.
- Buộc người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Mạnh Q là ông Nguyễn Mạnh C và bà Phạm Thị Thu T phải nộp lại số tiền bị cáo Nguyễn Mạnh Q thu lợi bất chính là 2.200.000đ.
- Buộc người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Hoàng Bửu P là ông Lê Hoàng Bửu L và bà Trần Thị Ngọc H phải nộp lại số tiền bị cáo Lê Hoàng Bửu P thu lợi bất chính là 2.200.000đ.
* Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Mạnh Q, Lê Hoàng Bửu P thống nhất về mặt tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố và áp dụng đối với bị cáo Bùi Xuân N1 và Lê Hoàng Bửu P. Tuy nhiên, Luật sư Bùi Xuân N1 và Trợ giúp viên pháp lý Nguyễn Thị Kim A cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng tình tiết định khung “phạm tội có tổ chức” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Bởi lẽ, theo người bào chữa thì các bị cáo không cùng nhau bàn bạc, câu kết chặt chẽ, không cùng nhau vạch ra kế hoạch để cùng thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi của các bị cáo không thuộc trường hợp “phạm tội có tổ chức” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự mà thuộc trường hợp “đồng phạm” theo quy định tại Khoản 1 Điều 17 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, người bào chữa cho các bị cáo còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến tình tiết khi phạm tội các bị cáo là người chưa thành niên, nhận thức pháp luật còn hạn chế, xem xét đến hoàn cảnh gia đình của các bị cáo rất khó khăn, cha mẹ ly hôn khi các bị cáo còn rất nhỏ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Từ những phân tích nêu trên, người bào chữa cho các bị cáo đề nghị HĐXX như sau:
- Luật sư Bùi Xuân N1 là người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Mạnh Q đề nghị HĐXX xem xét áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s, r, t khoản 1 Điều 51; Điều 17, 54, 58, 91 và 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh Q dưới mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải Châu đã đề nghị tại phiên tòa.
- Trợ giúp viên pháp lý Nguyễn Thị Kim A là người bào chữa cho bị cáo Lê Hoàng Bửu P đề nghị HĐXX xem xét áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 54, 58, 91 và 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Hoàng Bửu P dưới mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải Châu đã đề nghị tại phiên tòa.
* Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các Nguyễn Mạnh Q; Lê Hoàng Bửu P khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng truy tố là đúng người, đúng tội, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
* Đối với bị cáo Phạm Duy N:
Quá trình điều tra, truy tố bị cáo Phạm Duy N chối tội. Tuy nhiên tại phiên tòa, bị cáo N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu đã nêu. Riêng đối với tình tiết “sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự đã truy tố đối với bị cáo thì bị cáo cho rằng khi gặp bị cáo Q và P thì bị cáo không có thông tin để biết là bị cáo P là người dưới 16 tuổi, bị cáo chỉ nhờ bị cáo Q đi giao ma túy, việc bị cáo Quang D1 theo bị cáo P là ngoài dự kiến của bị cáo. Vì vậy, bị cáo đề nghị HĐXX xem xét không áp dụng tình tiết này đối với bị cáo và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đồng thời, bị cáo N cũng xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Q và bị cáo P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quy trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
- Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Tống Phước T1, Trần Khánh Thiên Q1, bà Phan Thị Tú T2; người chứng kiến là ông Trần Nhật L1, ông Bạch Văn P1 vắng mặt tại. Xét việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
- Về hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy:
- Về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội và vai trò của từng bị cáo:
- Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về hình phạt chính:
- Xét lời bào chữa của luật sư và trợ giúp viên pháp lý tại phiên tòa, HĐXX thấy:
- Về hình phạt bổ sung:
- Biện pháp tư pháp:
- Về xử lý vật chứng:
- Đối với 2,160 gam mẫu A1; 6,125 gam mẫu A2 ; 1,443 gam mẫu B1; 1,481 gam mẫu B2 và 1,430 gam mẫu C còn lại sau giám định (theo Kết luận giám định số 421/KLMT-KTHS ngày 23/5/2023 của Phòng K Công an T5) là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành và toàn bộ vỏ bao gói mẫu, 02 gói nilong chưa qua sử dụng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động màu vàng, có chữ Iphone, không gắn sim, số imei: 353810089969146 (của Q) là tài sản có được do phạm tội và 01 điện thoại di động màu đen, có chữ Iphone, gắn sim 0985.104.xxx, số imei: 350401982333284 (của P) là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tuyên tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 xe mô tô Biển số 43G1 - 519.61: Kết quả điều tra xác định xe mô tô này của của chị Phan Thị Tú T2. Chị T2 gửi xe ở nhà P rồi đi làm, P tự ý lấy để sử dụng, chị T2 không biết việc P sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội, nên Cơ quan CSĐT Công an quận H xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho chị T2 là có căn cứ.
- Đối với các vật chứng nêu sau đây là tài liệu, chứng cứ có liên quan và chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo nên HĐXX xét thấy cần tiếp tục lưu trữ tại hồ sơ vụ án:
- - Trích sao nội dung tin nhắn trong điện thoại Iphone của Q từ ứng dụng Telegram tên tài khoản Xyz Accc.
- - Trích sao lịch sử giao dịch của tài khoản số 02627539999 của Nguyễn Viết D mở tại ngân hàng T4.
- - Trích sao lịch sử giao dịch của tài khoản số 0041000176526 của Tống Phước T1 mở tại ngân hàng V1.
- - Trích sao lịch sử giao dịch của tài khoản số [...] của Hồ Ngọc C1 mở tại Ngân hàng V2.
- - Trích sao lịch sử giao dịch của tài khoản số 0985104159 của Nguyễn Mạnh Q mở tại Ngân hàng M.
- Ngoài ra, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Mạnh Q, ngày 20.5.2023 Công an quận H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 56/QĐ-XPHC xử phạt 750.000 đồng là có căn cứ, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
- Về án phí:
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Mạnh Q, Lê Hoàng Bửu P, Phạm Duy N khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết quả giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Từ ngày 11/5/2023 đến ngày 14/5/2023, Phạm Duy N đã bàn bạc, thống nhất thuê Nguyễn Mạnh Q bán trái phép chất ma túy 05 lần cho nhiều người đều không rõ nhân thân, lai lịch, tại địa bàn quận H và các quận T, quận C, thành phố Đà Nẵng. Đến khoảng 23h45' ngày 14/5/2023, Phạm Duy N giao 6,436 gam ma tuý loại MDMA và 8,694 gam ma túy loại Ketamine cho Nguyễn Mạnh Q và Lê Hoàng Bửu P đem đến trước số nhà D đường T, phường T, quận H, TP Đà Nẵng, để bán cho khách của N thì bị bắt quả tang. Ngoài ra, Phạm Duy N đã trực tiếp 06 lần bán ma túy cho Tống Phước T1.
Như vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, có tổ chức cùng thống nhất thực hiện hành vi. Trước khi phạm tội, các bị cáo đã gặp nhau để bàn bạc, phân công vai trò cụ thể của từng người, cùng nhau lập 01 tài khoản Telegram để liên lạc, thực hiện hành vi nhiều lần. Các bị cáo bán trái phép 02 chất ma túy với khối lượng 6,436 gam ma tuý loại MDMA và 8,694 gam ma túy loại Ketamine. Do đó, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung theo quy định tại điểm a, điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Phạm Duy N đã mua bán trái phép chất ma túy 11 lần, bị cáo Nguyễn Mạnh Q thống nhất giúp sức cho bị cáo N bán trái phép chất ma túy 05 lần nên hành vi của bị cáo N và bị cáo Q còn thuộc tình tiết định khung “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Lê Hoàng Bửu P, mặc dù là người thống nhất giúp sức cho bị cáo N bán trái phép chất ma tuý 05 lần nhưng bị cáo Lê Hoàng Bửu P khi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi (14 tuổi 6 tháng 03 ngày) có hành vi mua bán trái phép nhưng kết quả điều tra không thu giữ được chất ma tuý của những lần P đã bán, do đó không chứng minh được khối lượng chất ma tuý tối thiểu của từng lần P đã bán. Theo hướng dẫn tại mục 10 của Nghị Quyết 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao thì P không chịu trách nhiệm hình sự theo điểm b (phạm tội 02 lần trở lên), khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, đối với bị cáo Phạm Duy N, mặc dù tại phiên tòa bị cáo cho rằng bị cáo không có thông tin để biết được bị cáo P là người dưới 16 tuổi, bị cáo chỉ nhờ bị cáo Q đi giao ma túy, việc bị cáo Quang D1 theo bị cáo P là ngoài dự kiến của bị cáo. Tuy nhiên, HĐXX xét thấy, bị cáo N đã trực tiếp gặp bị cáo P, sau đó cùng nhau lập chung 01 tài khoản Telegram để liên lạc, cùng thực hiện hành vi nhiều lần nên bị cáo có đủ thời gian và điều kiện để biết bị cáo P là người dưới 16 tuổi nhưng bị cáo vẫn sử dụng bị cáo P vào việc phạm tội. Do đó, hành vi này của bị cáo N còn phạm vào tình tiết định khung quy định tại điểm e, khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự.
Từ những phân tích nêu trên HĐXX xét thấy Cáo trạng số 73/CT-VKSHC ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu đã truy tố bị cáo Phạm Duy N theo điểm a, b, e, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Mạnh Q theo điểm a, b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và bị cáo Lê Hoàng Bửu P theo điểm a, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước mà còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của từng bị cáo.
Đối với bị cáo Phạm Duy N: Mặc dù bị cáo cùng chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy đối với khối lượng chất ma túy ngang với các bị cáo khác. Tuy nhiên trong vụ án này, bị cáo Phạm Duy N là người có vai trò tích cực nhất. Bị cáo là người khởi xướng, bàn bạc, là người trực tiếp liên lạc, thỏa thuận về số lượng, giá cả, địa điểm giao nhận ma túy, trực tiếp nhận tiền từ người mua ma túy và đã xúi giục bị cáo Q (là người dưới 18 tuổi), P (là người dưới 16 tuổi) phạm tội. Ngoài ra, ngoài số lần mua bán ma túy cùng bị cáo Q và P thì bị cáo N còn trực tiếp bán ma túy 6 lần cho Tống Phước T1. Do đó, bị cáo Phạm Duy N phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo Nguyễn Mạnh Q và Lê Hoàng Bửu P.
Đối với bị cáo Nguyễn Mạnh Q: bị cáo bị truy tố về hành vi bán trái phép 02 chất ma túy với cùng khối lượng như bị cáo N và P. Tuy nhiên, bị cáo là người trực tiếp giao dịch, nhận tiền công giao ma túy từ bị cáo N nên hành vi giúp sức của bị cáo trong đồng phạm là tích cực hơn bị cáo P. Ngoài ra, bị cáo Q còn bị truy tố về hành vi giúp sức cho bị cáo N bán trái phép chất ma túy 05 lần nên bị cáo Q phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo Lê Hoàng Bửu P.
Các bị cáo Nguyễn Mạnh Q và Lê Hoàng Bửu P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Mạnh Q và Lê Hoàng Bửu P thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải và tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Mạnh Q đã tự thú về các lần mua bán trái phép chất ma túy trước khi bị bắt nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm r khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Q. Bị cáo Lê Hoàng Bửu P có hoàn cảnh gia đình khó khăn, được chính quyền địa phương xác nhận nên HĐXX sẽ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo P.
Đối với bị cáo Nguyễn Duy N2: Bị cáo có hành vi xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo N2 chối tội. Tuy nhiên tại phiên tòa, bị cáo N2 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải nên HĐXX sẽ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt các bị cáo hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo nói riêng đồng thời cũng để răn đe, phòng chống tội phạm nói chung. Đối với bị cáo Nguyễn Mạnh Q khi phạm tội bị cáo 16 tuổi 7 tháng 22 ngày và bị cáo Lê Hoàng Bửu P khi phạm tội bị cáo 14 tuổi 6 tháng 03 ngày nên HĐXX sẽ áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo các Điều 90, 91 và 101 Bộ luật Hình sự.
Như đã phân tích nêu trên, hành vi phạm tội của các bị cáo là có tổ chức cùng thống nhất thực hiện hành vi. Trước khi phạm tội, các bị cáo đã gặp nhau để bàn bạc, phân công vai trò cụ thể của từng người, cùng nhau lập 01 tài khoản Telegram để liên lạc, thực hiện hành vi nhiều lần. Do đó, HĐXX thấy không có cơ sở để chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Q và P về việc không áp dụng tình tiết định khung “phạm tội có tổ chức” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.
Đối với các ý kiến còn lại của người bào chữa về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo các điều luật viện dẫn nêu trên để xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh Q và Lê Hoàng Bửu P dưới mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải Châu đề nghị là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc cấm làm công việc nhất định từ một đến năm năm, phạt quản chế, cấm cư trú từ một đến năm năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do đó, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên xét thấy, bị cáo Nguyễn Mạnh Q và Lê Hoàng Bửu P là người dưới 18 tuổi, theo quy định tại khoản 6 Điều 91 BLHS thì không áp dụng hình phạt bổ sung và bị cáo Nguyễn Duy N2 là lao động phổ thông, không có thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Mạnh Q và Lê Hoàng Bửu P đã thừa nhận trong quá trình mua bán trái phép chất ma túy đã thu lợi bất chính số tiền 4.400.000 đồng, cùng chia nhau tiêu xài. Bị cáo Phạm Duy N khai thu lợi bất chính số tiền 3.000.000đ. Do đó, HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính để sung quỹ nhà nước. Tuy nhiên, các bị cáo Nguyễn Mạnh Q và Lê Hoàng Bửu P là người chưa thành niên nên cần buộc người đại diện hợp pháp của các bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính nêu trên.
Căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử lý như sau:
Đối với Nguyễn Viết D có hành vi cho Phạm Duy N mượn tài khoản số 02627539999 mở tại ngân hàng T7 để sử dụng, hành vi của D đã vi phạm điểm a khoản 5 Điều 26 Nghị định số 88/2019/NĐ-CP “cho mượn từ 01 tài khoản thanh toán đến dưới 10 tài khoản thanh toán”, Công an quận H đề nghị Chủ tịch UBND quận H xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt 45.000.000 đồng là có căn cứ.
Đối với Tống Phước T1 khai đã mua ma tuý của Phạm Duy N 06 lần, hiện vật chứng không thu giữ được và chỉ duy nhất lời khai của T1, nên không đủ cơ sở để kết luận, xử lý.
Đối với C1 và các thanh niên đã mua ma túy của N do Q và P đến giao, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Duy N, Nguyễn Mạnh Q và Lê Hoàng Bửu P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm a, b, e, p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 56 Bộ luật hình sự.
- Áp dụng điểm a, b, p khoản 2 Điều 251, điểm s, r, t khoản 1 Điều 51, Điều 90, 91 và 101 Bộ luật Hình sự.
- Áp dụng điểm a, p khoản 2 Điều 251, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, 91 và 101 Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- * Tịch thu tiêu hủy: 2,160 gam mẫu A1; 6,125 gam mẫu A2 ; 1,443 gam mẫu B1; 1,481 gam mẫu B2 và 1,430 gam mẫu C còn lại sau giám định (theo Kết luận giám định số 421/KLMT-KTHS ngày 23/5/2023 của Phòng K Công an T5.Đà Nẵng) và toàn bộ vỏ bao gói mẫu, 02 gói ni lông chưa qua sử dụng.
- * Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:
- 01 điện thoại di động màu vàng, có chữ Iphone, không gắn sim, số imei: 353810089969146.
- 01 điện thoại di động màu đen, có chữ Iphone, gắn sim 0985.104.xxx, số imei: 350401982333284.
- Về biện pháp tư pháp : Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự.
- Buộc bị cáo Phạm Duy N phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 3.000.000₫.
- Buộc người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Mạnh Q là ông Nguyễn Mạnh C và bà Phạm Thị Thu T phải nộp lại số tiền bị cáo Nguyễn Mạnh Q thu lợi bất chính là 2.200.000đ.
- Buộc người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Hoàng Bửu P là ông Lê Hoàng Bửu L và bà Trần Thị Ngọc H phải nộp lại số tiền bị cáo Lê Hoàng Bửu P thu lợi bất chính là 2.200.000đ.
- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bào chữa của bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc được niêm yết tại địa phương.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Duy N 10 (mười) năm tù. Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù tại Bản án số 94/2023/HS-ST ngày 23/11/2023 của Toà án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02.8.2023.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Mạnh Q 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, được trừ đi những ngày bị tạm giữ từ ngày 15/5/2023 đến ngày 23/5/2023 là 09 ngày. Thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại là 04 (bốn) năm 05 (năm) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Xử phạt: Bị cáo Lê Hoàng Bửu P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, được trừ đi những ngày bị tạm giữ từ ngày 15/5/2023 đến ngày 23/5/2023 là 09 ngày. Thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại là 02 (hai) năm 05 (năm) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
(Toàn bộ các vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18 tháng 6 năm 2024).
Buộc các bị cáo Phạm Duy N, Nguyễn Mạnh Q và Lê Hoàng Bửu P mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Thanh Nga |
Bản án số 103/2024/HS-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 103/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Duy N, Nguyễn Mạnh Q và Lê Hoàng Bửu P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
