Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH VĨNH LONG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 103/2024/DS-PT

Ngày: 24-5-2024

V/v “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Lộc

Các Thẩm phán: Ông Cao Văn Lạc

Ông Nguyễn Văn Trường

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Khương – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 26/2024/TLPT-DS ngày 29 tháng 01 năm 2024 về việc: “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 135/2023/DS-ST, ngày 22 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 133/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn Mười H, sinh năm 1965.

    Địa chỉ: Số nhà A, khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

    Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn Mười H: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1963.

    Địa chỉ: Số A khóm T, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Trung H1, sinh năm 1970.

    Địa chỉ: Số 30A/2 ấp Phú An, xã Phú Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long

  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

    1. Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1965

      Địa chỉ: Số nhà A khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long

    2. Chị Lê Thị Hồng Y, sinh năm 1977.

    3. Anh Nguyễn Trung H2, sinh năm 2002

      Cùng địa chỉ: Số C ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long

      Người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Trung H2: Anh Nguyễn Trung H1, sinh năm 1970, cùng địa chỉ (Theo giấy ủy quyền ngày 20/11/2023).

  4. Người làm chứng: Anh Phan Chí H3, sinh năm 1979

    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

Người kháng cáo: Ông Trần Văn Mười H - là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 07/3/2023, đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện ngày 22/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ông Mười H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất (QSDĐ) thửa số 27 tờ bản đồ số 5, diện tích 957,2m², loại ONT + CLN, tọa lạc xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long từ anh Phan Chí H3 với giá là 1.100.000.000đ, nhưng khi ký hợp đồng chuyển nhượng ghi giá 320.000.000đ để đóng thuế theo quy định nhà nước.

Ông Mười H nhận chuyển QSDĐ thửa số 27 với Phan Chí H3 là chuyển nhượng trọn thửa, không có đo đạc, trước khi ký hợp đồng chuyển nhượng này, ông Mười H có đến phần đất này xem, ông Mười H thấy trên đất có căn nhà của bà Trần Thị S và căn nhà của anh H1, nhưng ông Mười H nghĩ rằng căn nhà của anh H1 không có nằm trên phần đất của ông nhận chuyển nhượng. Sau khi ông đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ ông mới biết phần đất của ông đứng tên, có căn nhà của anh H1 đang ở. Hiện tại, ông Mười H đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ thửa số 27, ông đang quản lý diện tích 755,5m², phần đất còn lại do anh H1 quản lý sử dụng diện tích 206,9m².

Ông Mười H yêu cầu anh Nguyễn Trung H1, Lê Thị Hồng Y, Nguyễn Trung H2 di dời nhà, tài sản và trả lại cho ông Mười H thửa đất số 27-2, tờ bản đồ số 5, diện tích 206,9m², tọa lạc tại xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Ông Mười H đồng ý hỗ trợ chi phí di dời là 40.000.000đ.

Ông Mười H không đồng ý yêu cầu phản tố của anh Nguyễn Trung H1 về việc công nhận cho anh H1 thửa số 27-2, tờ bản đồ số 5, diện tích 206,9m², tọa lạc xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long, và trả giá trị cho ông với giá 334.308đ/m².

Bị đơn anh Nguyễn Trung H1 trình bày:

Nguồn gốc phần đất thửa số 27, tờ bản đồ số 5, diện tích 957,2m², loại ONT + CLN, tọa lạc xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long là của cha mẹ anh H1 là ông Nguyễn Văn N (chết 2007) và bà Trần Thị S (chết 2021). Vào năm 2011, bà S có tặng cho anh H1 phần đất khoảng 200m² thuộc thửa 27 để anh H1 cất nhà ra riêng, không có làm thủ tục tặng cho theo quy định pháp luật mà chỉ viết giấy tay cho đất ngày 26/5/2011 có xác nhận của UBND xã P ngày 01/6/2011, anh H1 có xây dựng 01 căn nhà tường cấp 4, chiều ngang khoảng 7m, chiều dài khoảng 17m và 01 lối đi chiều ngang khoảng 1,5m, chiều dài khoảng 15m thuộc chiết thửa số 27. Theo kết quả đo đạc hiện trạng phần đất tranh chấp, hiện nay anh H1 đang quản lý sử dụng phần đất có diện tích 206,9m², thuộc thửa số 27, phần đất còn lại diện tích 755,5m² do ông Mười H đang quản lý anh H1 không có tranh chấp gì.

Nay theo yêu cầu của ông Mười H, anh H1 không đồng ý di dời căn nhà và tài sản để trả lại trên phần đất có diện tích 206,9m², thuộc thửa số 27 cho ông Mười H vì hiện tại gia đình anh không có chỗ ở nào khác.

Tại phiên toà anh H1 yêu cầu công nhận phần đất thuộc thửa số 27-2, tờ bản đồ số 5, diện tích 206,9m², tọa lạc xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long gắn liền với căn nhà của anh và lối đi ra đường công cộng cho anh H1 và chị Y đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ, anh H1, chị Y đồng ý trả giá trị đất cho ông Mười H với giá 334.308đ/m².

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Đ là anh Phạm Hoài Duy T1 trình bày: Bà Đ thống nhất theo trình bày của ông Trần Văn Mười H, ngoài ra bà Đ không có yêu cầu gì khác. Thống nhất kết quả đo đạc hiện trạng khu đất ngày 02/11/2023

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Hồng Y trình bày: Chị Y không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn, chị Y thống nhất theo trình bày của anh H1, ngoài ra chị Y không có yêu cầu gì khác.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Trung H2 là anh Nguyễn Trung H1 trình bày: Anh Nguyễn Trung H2 không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn, ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 135/20213/DS-ST ngày 22/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ đã xử:

Căn cứ vào Điều 166, 357 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 147, 157, 165 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 100, 203 Luật Đất đai; Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thương vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Mười H và chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của anh Nguyễn Trung H1.

    • - Buộc anh Nguyễn Trung H1 và chị Lê Thị Hồng Y có nghĩa vụ trả cho ông Trần Văn M Hai giá trị quyền sử dụng đất đối với phần đất tách thửa 27-2, tờ bản đồ 5, diện tích 206,9 m², với số tiền là 69.168.000đ.

    • - Công nhận cho anh Nguyễn Trung H1 và chị Lê Thị Hồng Y được quyền sử dụng phần đất thuộc tách thửa số 27-2, tờ bản đồ số 5, diện tích 206,9m² (trong đó có 50m² đất ONT, 156,9m² đất CLN) tọa lạc xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

    • - Anh Nguyễn Trung H1 và chị Lê Thị Hồng Y có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan có thẩm quyền thực hiện kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, về án phí sơ thẩm, về nghĩa vụ trả lãi do chậm thi hành án và về quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 02/01/2024 ông Trần Văn Mười H có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Mười H. Buộc Nguyễn Trung H1, Lê Thị Hồng Y, Nguyễn Trung H2 tháo dở di dời căn nhà cấp 4 và toàn bộ tài sản để trả lại cho ông Mười H phần đất diện tích 206,6m² thuộc thửa 27,2, tờ bản đồ số 5, diện tích 957,2m² loại đất ở và đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

  2. Trường hợp Tòa án xử buộc Nguyễn Trung H1, Lê Thị Hồng Y, Nguyễn Trung H2 trả giá trị đất 206,9m² cho ông Mười H, ông Mười H yêu cầu định giá lại đất tranh chấp theo giá thị trường (khi ông Mười H nhận chuyển nhượng 1.149.000đ/m²).

Tại phiên tòa phúc thẩm ông Nguyễn Hữu T đại diện cho ông Trần Văn M Hai giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Anh Nguyễn Trung H1 và chị Lê Thị Hồng Y không đồng ý kháng cáo của ông Trần Văn Mười H và yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người làm chứng anh Phan Chí H3 trình bày: Anh H3 có bán cho ông Trần Văn M Hai thửa đất số 27, tờ bản đồ số 5, diện tích 957,2m², loại ONT + CLN, tọa lạc xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long với giá 1.100.000.000đ. Hiện tại ông Mười H đã đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất nêu trên. Ngoài ra ông H3 không có trình bày gì khác.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán thụ lý vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Trần Văn M Hai là có căn cứ để chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận một phần đơn kháng cáo của ông Trần Văn Mười H, sửa bản án sơ thẩm. Công nhận cho anh Nguyễn Trung H1 và chị Lê Thị Hồng Y được quyền sử dụng phần đất thuộc tách thửa số 27-2, tờ bản đồ số 5, diện tích 206,9m² (trong đó có 50m² đất ONT, 156,9m² đất CLN) tọa lạc xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Buộc anh Nguyễn Trung H1 và chị Lê Thị Hồng Y có nghĩa vụ trả cho ông Trần Văn M Hai giá trị quyền sử dụng đất đối với phần đất tách thửa 27-2, tờ bản đồ 5, diện tích 206,9 m², với số tiền là 237.728.100 đồng. Do sửa án sơ thẩm, nên xem xét lại phần án phí sơ thẩm. Ông Trần Văn Mười H không phải chịu án phí phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên án ngày 22/12/2023. Ngày 02/01/2024 ông Trần Văn Mười H có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Xét đơn kháng cáo của ông Trần Văn Mười H còn trong hạn luật định, ông Mười H đã nộp tiền tạm ứng án phí đầy đủ, đúng quy định, nên kháng cáo hợp lệ. Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết theo thủ tục phúc thẩm là đúng quy định của pháp luật.

  2. Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Trần Văn Mười H, Hội đồng xét xử nhận thấy:

    • [2.1] Vào ngày 15/12/2022 ông Trần Văn Mười H có nhận chuyển nhượng của ông Phan Chí H3 thửa đất số 27, diện tích 957,2m², loại đất ở và đất trông cây lâu năm, tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long và ông Mười H được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 30/12/2022. Khi nhận chuyển nhương quyền sử dụng đất trên đất có anh Nguyễn Trung H1 và chị Lê Thị Hồng Y đã xây nhà ở trên đất.

    • Theo anh H1 trình bày là anh được mẹ là bà Nguyễn Thị Sẩm t cho đất vào năm 2011, anh xây cất nhà ở từ năm 2011 cho đến nay, nhưng không có làm thủ tục tặng cho đất đai theo quy định của pháp luật.

    • Sau khi nhận thửa đất số 27 ông Trần Văn M Hai yêu cầu anh Nguyễn Trung H1 và chị Lê Thị Hồng Y di dời nhà và vật kiến trúc đi nơi khác trả đất cho ông Mười H, nhưng anh H1 và chị Y không đồng ý, nên xảy ra tranh chấp.

    • Qua khảo sát thực tế phần đất anh H1 và chị Y sử dụng có diện tích 206,9m², tên đất có căn nhà cấp 4 của anh H1 và chị Y đang sử dụng.

    • [2.2] Xét việc ông Trần Văn M Hai yêu cầu anh Nguyễn Trung H1 và chị Lê Thị Hồng Y trả đất cho ông Mười H là có căn cứ, vì phần đất tranh chấp do ông Mười H nhận chuyển nhượng và được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc anh H1 cho rằng đất tranh chấp là do mẹ anh cho anh sử dụng từ năm 2011 đến nay nhưng không làm thủ tục theo quy định của pháp luật, nên không có căn cứ xác định đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của anh H1. Tuy nhiên hiện nay ngoài chỗ ở này ra anh H1 và chị Hồng Y không còn chỗ ở nào khác, nên án sơ thẩm buộc anh H1 và chị Y trả giá trị đất cho ông Mười H và công nhận cho anh H1 và chị Y được quyền sử dụng phần đất tranh chấp 206,9m² là có căn cứ. Do đó việc ông Mười H kháng cáo yêu cầu anh H1, chị Hồng Y và anh H2 di dời nhà và vật kiến trúc đi nơi khác trả đất cho ông Mười H là chưa đủ căn cứ.

    • [2.3] Xét về giá đất tại thời điểm ông Mười H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Phan Chí H3 thì giá đất tính bình quân bằng 1.490.000đ/m². Tại cấp sơ thẩm anh H1 đồng ý trả giá trị đất cho ông Mười H với giá 334.000đ/m² là chưa phù hợp. chưa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của ông Mười H. Do đó ông Mười H kháng cáo yêu cầu anh H1, chị Y trả giá trị đất cho ông Mười H giá 1.149.000đ/m² là phù hợp và có căn cứ. Nên cần buộc anh H1 và chị Hồng Y trả giá trị đất cho ông Mười H giá 1.149.000đ/m² x 206,9m² = 237.728.100đ là phù hợp với thực tế.

Từ nhận định phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn Mười H, sửa bản án sơ thẩm, công nhận cho anh Nguyễn Trung H1 và chị Lê Thị Hồng Y được quyền sử dụng phần đất thuộc tách thửa số 27-2, tờ bản đồ số 5, diện tích 206,9m² (trong đó có 50m² đất ONT, 156,9m² đất CLN) tọa lạc xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Buộc anh Nguyễn Trung H1 và chị Lê Thị Hồng Y có nghĩa vụ trả cho ông Trần Văn M Hai giá trị quyền sử dụng đất đối với phần đất tách thửa 27-2, tờ bản đồ 5, diện tích 206,9 m², với số tiền là 237.728.100 đồng. Do sửa án sơ thẩm nên phần án phí sơ thẩm cũng được xem xét lại cho phù hợp theo quy định của pháp luật.

  1. Xét đề nghị của kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ.

  2. Về án phí phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm, nên ông Trần Văn Mười H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng năm 2015.

Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của ông Trần Văn Mười H. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 135/2023/DS-ST ngày 22/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Căn cứ Điều 148 Bộ luật tớ tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Điều 166, 357 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100, 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thương vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Mười H.

    • 1.1/ Buộc anh Nguyễn Trung H1 và chị Lê Thị Hồng Y có nghĩa vụ trả cho ông Trần Văn M Hai giá trị quyền sử dụng đất đối với phần đất tách thửa 27-2, tờ bản đồ 5, diện tích 206,9m² bằng số tiền là 237.728.100đ (Hai trăm ba mươi bảy triệu bảy trăm hai mươi tám nghìn một trăm đồng).

    • 1.2/ Công nhận cho anh Nguyễn Trung H1 và chị Lê Thị Hồng Y được quyền sử dụng phần đất thuộc tách thửa số 27-2, tờ bản đồ số 5, diện tích 206,9m² (trong đó có 50m² đất ONT, 156,9m² đất CLN) tọa lạc tại xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (có trích đo hiện trạng khu đất kèm theo).

Anh Nguyễn Trung H1 và chị Lê Thị Hồng Y có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan có thẩm quyền thực hiện kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    • 2.1/ Ông Trần Văn Mười H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả ông Trần Văn M Hai 300.000đ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 0005152 ngày 27/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

    • 2.2/ Buộc anh Nguyễn Trung H1 và chị Lê Thị Hồng Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 11.886.000đ (mười một triệu tám trăm tám mươi sáu nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo lai thu tiền số 0005260 ngày 18/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ; anh H1 và chị Y còn phải nộp 11.586.000đ (mười một triệu năm trăm tám mươi sáu nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Văn Mười H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả ông Trần Văn M Hai 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu tiền số 0000688 ngày 02/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

- TAND Cấp cao: 01;

- VKSND tỉnh Vĩnh Long: 02;

- Phòng KTNV&THA: 01;

- TAND huyện Long Hồ: 01;

- THADS huyện Long Hồ: 01;

- Các đương sự;

- Lưu: 06;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2024/DS-PT ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 103/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Mười Hai tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger