Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 103/2024/HS-STNgày: 19-8-2024

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Nguyệt Mai

Bà Trần Thị Tuyết

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Đẩu - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 95/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024, quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 109/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Lương Yến L, sinh ngày 09 tháng 7 năm 1977 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nữ; Nơi thường trú: A V, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Buôn bán; Học vấn: 03/12; dân tộc: Hoa; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lương Châu; con bà: Lương Hồng H; Chưa có chồng; Có 01 người con sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2024 (có mặt tại phiên tòa).

  2. Vũ Đình D, sinh ngày 28 tháng 8 năm 1994 tại: Nam Định; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm M, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; Chỗ ở: 10.03 (TTC A) chung cư L, đường H, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Làm công; Học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Hồng P; con bà: Nguyễn Thị L1; Có vợ tên Nguyễn Thị Thùy T; Có 01 người con, sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2024 (có mặt tại phiên tòa).

2

Bị hại (đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan):

  1. Bà Phùng Yến K, sinh năm 1972; Nơi cư trú: A T, Phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  2. Bà Phùng Yến K1, sinh năm 1974; Nơi cư trú: A T, Phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  3. Bà Tăng Tú D1, sinh năm 1977; Nơi cư trú: A T, Phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ năm 2021 đến đầu năm 2024, Lương Yến L cho các bà Phùng Yến K1, Phùng Yến K và Tăng Tú D1 vay tổng số tiền là 125.000.000 đồng, cho vay chia thành nhiều đợt với lãi suất từ 10% đến 15%/tháng. Hằng tháng, tùy theo ngày vay tiền, L yêu cầu các bà K, K1 và D1 thực hiện thanh toán tiền lãi của các khoản vay cho L. Trong thời gian vay tiền, bà K, K1 và D1 dù chưa thanh toán tiền nợ gốc nhưng thanh toán tiền lãi đúng hẹn. Sau thời gian trả tiền lãi đầy đủ, đến đầu năm 2023 thì bà K1, K và D1 nhiều lần thất hẹn, chậm thực hiện việc trả lãi vay nợ của L nên L đã chốt lại các khoản tiền vay và thời hạn trả nợ, L yêu cầu bà K1, K và D1 ký xác nhận vào “Giấy mượn tiền” vào các ngày 20/01/2023, 21/01/2023, 15/8/2023 và “Giấy cam kết trả tiền” vào ngày 06/6/2023, “Giấy hẹn” trả tiền vào ngày 26/12/2023 (toàn bộ các giấy tờ liên quan đến việc xác nhận nợ, giấy cam kết trả tiền của bà K1, bà K và bà D1 đều được L giữ tại nhà để đối chiếu sau này). Do bà K1, K và D1 nhiều lần không thanh toán tiền gốc và tiền lãi cho L nên từ đầu năm 2023, L và Vũ Đình D là người làm công cho L đã nhiều lần nhắn tin, gọi điện và đến nhà để chửi bới, đe dọa và yêu cầu bà K1, K và D1 phải trả tiền. Mặc dù, D không biết K, K1 và D1 nợ L bao nhiêu tiền và lãi suất cụ thể bao nhiêu. Đến ngày 25/12/2023, tại nhà bà K, K1 và D1, địa chỉ số A T, Phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, L dùng nón bảo hiểm đánh bà K gây thương tích nhằm mục đích đe dọa, gây áp lực buộc bà K1, K và D1 phải trả tiền. Việc đánh bà K có D chứng kiến. Đồng thời, vào ngày 15/01/2024, L nói với D đến nhà của bà K, K1 và D1 để đe dọa gây áp lực buộc K, K1 và D1 phải trả nợ cho L. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, D một mình đi đến nhà bà K, K1 và D1 để đe dọa, uy hiếp tinh thần bà K, K1 và D1, cụ thể D nói: “ngày mai chúng mày không trả thì chết mẹ chúng mày với tao, tao không nể nang một ai nữa” nhưng bà K, K1 và D1 chưa có tiền để trả cho L. Do lo sợ bị đánh, ảnh hưởng đến tính mạng sức khỏe gia đình nên bà K1, K và D1

3

đồng ý trả tiền cho L, đến ngày 17/01/2024 tại quán C, số A H, Phường H, Quận E, khi Lương Yến L đang nhận tiền của bà K1, K với số tiền 2.500.000 đồng thì bị Công an bắt quả tang. Vụ việc sau đó được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q thụ lý theo thẩm quyền.

Qua kết quả khám xét, thu giữ nhiều sổ sách liên quan đến hoạt động cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của Lương Yến L và tạm giữ số tiền 968.700.000 đồng để xác minh làm rõ. Tiến hành thu thập từ các tài liệu đã tạm giữ liên quan đến việc L cho K1, K và D1 vay tiền từ ngày 19/03/2021 đến 17/01/2024 với tổng số tiền là 125.000.000 đồng, lãi suất từ 10%-15%/tháng. L thu lợi từ việc cho vay số tiền 221.600.000 đồng, trong đó thu lợi bất chính số tiền 195.023.400 đồng (số tiền lãi vượt quá lãi suất cao nhất được pháp luật quy định), các bà K1, K và D1 đã trả cho bị cáo L số nợ gốc đã vay là 29.000.000 đồng, còn lại 96.000.000 đồng tiền nợ gốc chưa trả. Cụ thể như sau:

  • Lần thứ 1: Ngày 06/03/2021, L cho bà K1, K và D1 vay số tiền 20.000.000 đồng, trong thời gian 01 tháng với lãi suất 10%/tháng, mỗi tháng thu lãi 2.000.000 đồng (cao gấp 06 lần so với lãi suất được quy định), số tiền lãi L đã thu là 2.000.000 đồng, lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 20% x 20.000.000 đồng : 12 tháng = 332.000 đồng/01 tháng. Như vậy, số tiền thu lợi bất chính mà L đã hưởng là: 2.000.000 đồng – 332.000 đồng = 1.668.000 đồng. Đến tháng 4 năm 2021, bà K1, K và D1 đã trả cho L 20.000.000 đồng tiền nợ gốc.
  • Lần thứ 2: Ngày 06/04/2021, L cho bà K1, K và D1 vay số tiền 9.000.000 đồng, trong thời gian 04 tháng với lãi suất 10%/tháng, mỗi tháng thu lãi 900.000 đồng (cao gấp 06 so với lãi suất được quy định), số tiền lãi L đã thu là 3.600.000 đồng, lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 20% x 9.000.000 đồng :12 tháng x 04 tháng = 597.600 đồng. Như vậy, số tiền thu lợi bất chính mà L đã hưởng là: 3.600.000 đồng – 597.600 đồng = 3.002.400 đồng. Đến tháng 8 năm 2021, bà K1, K và D1 đã trả cho L 9.000.000 đồng tiền nợ gốc.
  • Lần thứ 3: Ngày 19/03/2021, L cho bà K1, K và D1 vay số tiền 18.0000.000 đồng, trong thời gian 10 tháng, tháng đầu với lãi suất 10%/tháng, tức đóng lãi 1.800.000 đồng (cao gấp 06 lần so với lãi suất được quy định) và 09 tháng sau, mỗi tháng với lãi suất 15%/tháng, tức mỗi tháng đóng lãi 2.700.000 đồng (cao gấp 09 lần so với lãi suất được quy định). Số tiền lãi L đã thu là 42.300.000 đồng, lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 20% x 18.000.000 đồng : 12 tháng x 10 tháng = 2.988.000 đồng. Như vậy, số tiền thu lợi bất chính mà L đã hưởng là: 42.300.000 đồng – 2.988.000 đồng = 39.312.000 đồng. Bà K1, K và D1 chưa trả số tiền nợ gốc 18.000.000 đồng.

4

  • Lần thứ 4: Ngày 19/04/2021, L cho bà K1, K và D1 vay số tiền 20.0000.000 đồng, với thời gian vay là 21 tháng, trong 09 tháng đầu với lãi suất 10%/tháng, tức mỗi tháng đóng lãi 2.000.000 đồng (cao cấp 06 lần so với lãi suất được quy định) và 12 tháng sau với lãi suất 15%/tháng, tức mỗi tháng đóng lãi 3.000.000 đồng (cao cấp 09 lần so với lãi suất được quy định). Số tiền lãi L đã thu là 54.000.000 đồng, lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 20% x 20.000.000 đồng : 12 tháng x 21 tháng = 6.972.000 đồng. Như vậy, số tiền thu lợi bất chính mà L đã hưởng là: 54.000.000 đồng – 6.972.000 đồng = 47.028.000 đồng. Bà K1, K và D1 chưa trả số tiền nợ gốc 20.000.000 đồng.
  • Lần thứ 5: Ngày 23/4/2021, L cho bà K1, K và D1 vay số tiền 15.000.000 đồng, với thời gian vay 18 tháng, trong 09 tháng đầu với lãi suất 10%/tháng, tức mỗi tháng đóng lãi 1.500.000 đồng (cao cấp 06 lần so với lãi suất được quy định) và 09 tháng sau với lãi suất 15%/tháng, tức mỗi tháng đóng lãi 2.250.000 đồng (cao cấp 09 lần so với lãi suất được quy định). Số tiền lãi L đã thu là 33.750.000 đồng, lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 20 % x 15.000.000 đồng : 12 tháng x 18 tháng = 4.482.000 đồng. Như vậy, số tiền thu lợi bất chính mà L đã hưởng là: 33.750.000 đồng – 4.482.000 đồng = 29.268.000 đồng. Bà K1, K và D1 chưa trả số tiền nợ gốc 15.000.000 đồng.
  • Lần thứ 6: Ngày 25/04/2021, L cho bà K1, K và D1 vay số tiền 34.000.000 đồng, với thời gian vay là 18 tháng, trong 09 tháng đầu với lãi suất 10%/tháng, tức mỗi tháng đóng lãi 3.400.000 đồng (cao cấp 06 lần so với lãi suất được quy định) và 09 tháng sau với lãi suất 15%/tháng, tức mỗi tháng đóng lãi 5.100.000 đồng (cao cấp 09 lần so với lãi suất được quy định). Số tiền lãi L đã thu 76.500.000 đồng, lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 20% x 34.000.000 đồng : 12 tháng x 18 tháng = 10.159.200 đồng. Như vậy, số tiền thu lợi bất chính mà L đã hưởng là: 76.500.000 đồng – 10.159.200 đồng = 66.340.800 đồng. Bà K1, K và D1 chưa trả số tiền nợ gốc 34.000.000 đồng.
  • Lần thứ 7: Ngày 19/03/2022, L cho bà K1, K và D1 vay số tiền 9.000.000 đồng, thời gian vay 07 tháng với lãi suất 15%/tháng, tức mỗi tháng đóng lãi 1.350.000 đồng (cao cấp 09 lần so với lãi suất được quy định). Số tiền lãi L đã thu 9.450.000 đồng, lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là 20% x 9.000.000 đồng : 12 tháng x 07 tháng = 1.045.800 đồng. Như vậy, số tiền thu lợi bất chính mà L đã hưởng là: 9.450.000 đồng – 1.045.800 đồng = 8.404.200 đồng. Bà K1, K và D1 chưa trả số tiền nợ gốc 9.000.000 đồng.

Tổng cộng số tiền Lương Yến L đã thu lợi bất chính từ việc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự sau khi đã trừ lãi suất được pháp luật quy định là 195.023.400 đồng.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) điện thoại di động hiệu S Z Flip 3 5G, số Imeil: 354949613523554, số Imei2: 356767493523553; 01 (một) điện thoại di

5

động hiệu Samsung Galaxy A04S, số Imei1: 350246956897842, số Imei2: 353931246897846; 01 (một) xe mô tô Honda Vision, biển số 59K2-152.46, số khung: JF66E0244932, số máy: RLHJF5810GY244899; số tiền 971.200.000 đồng (Chín trăm bảy mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Bà Phùng Yến K1, Phùng Yến K và Tăng Tú D1 không có yêu cầu nhận lại số tiền 2.500.000 đồng và cũng không có yêu cầu gì khác.

Bản cáo trạng số: 92/CT-VKSQ5 ngày 08/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lương Yến L về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” và “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định Khoản 1 Điều 170 và Khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Truy tố bị cáo Vũ Đình D về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định Khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lương Yến L về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” và “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; bị cáo Vũ Đình D về tội: “Cưỡng đoạt tài sản”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 170; Khoản 2 Điều 201; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lương Yến L với mức án từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và với mức án từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Tổng hợp hình phạt chung cả hai tội buộc bị cáo L phải chấp hành với mức án từ 01 (một) năm 09 (chín) tháng đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 170; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Vũ Đình D với mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về vật chứng xử lý theo quy định pháp luật:

Đề nghị Hội đồng xét xử em xét tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu S Z Flip 3 5G, số Imeil: 354949613523554, số Imei2: 356767493523553; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A04S, số Imei1: 350246956897842, số Imei2: 353931246897846 là tài sản cá nhân của các bị cáo, sử dụng vào việc phạm tội;

6

Trả lại cho bị cáo Lương Yến L 01 (một) xe mô tô Honda Vision, biển số 59K2-152.46, số khung: JF66E0244932, số máy: RLHJF5810GY244899 là tài sản cá nhân của bị cáo L, không liên quan đến việc phạm tội.

Trả lại lại cho bị cáo Lương Yến L số tiền 968.700.000 đồng (Chín trăm sáu mươi tám triệu bảy trăm nghìn đồng).

Trả lại cho các bà Phùng Yến K1, Phùng Yến K và Tăng Tú D1 số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) mà các bị cáo đã chiếm đoạt.

Buộc bị cáo Lương Yến L nộp lại số tiền thu lợi bất chính để sung ngân sách nhà nước.

Buộc bị cáo Lương Yến L có trách nhiệm hoàn trả lại cho các bà Phùng Yến K1, Phùng Yến K và Tăng Tú D1 số tiền lãi vượt quá quy định mà bị cáo L đã được hưởng.

Các bị cáo không có ý kiến bào chữa, không tranh luận và đều nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Tại phiên tòa công khai, bị cáo Lương Yến L và Vũ Đình D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại (đồng thời cũng là người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án), vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, các bị cáo Lương Yến L và Vũ Đình D đã có hành vi đe dọa, uy hiếp tinh thần, dùng vũ lực làm cho các bà Phùng Yến K1, Phùng Yến K và Tăng Tú D1 lo sợ nên ngày 17/01/2024 các bà K1, K và D1 đã đưa cho bị cáo L số tiền 2.500.000 đồng thì Công an bắt quả tang khi bị cáo L đang nhận tiền tại quán C, số A H, Phường H, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Như vậy, hành vi của các bị cáo Lương Yến L và Vũ Đình D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

7

Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra còn xác định bị cáo Lương Yến L đã có hành vi cho các bà Phùng Yến K1, Phùng Yến K và Tăng Tú D1 vay tiền với lãi suất từ 10%/tháng đến 15 %/tháng (tức lãi suất từ 120% đến 180% trong 01 năm), lãi suất mà bị cáo L cho vay đã vượt gấp hơn 05 lần của mức lãi suất cao nhất theo quy định trong Bộ luật dân sự cho phép là 20%/năm, cụ thể như sau:

  • Lần thứ 1: Ngày 06/03/2021, L cho bà K1, K và D1 vay số tiền 20.000.000 đồng, đã thu lợi bất chính với số tiền 1.668.000 đồng.
  • Lần thứ 2: Ngày 06/04/2021, L cho bà K1, K và D1 vay số tiền 9.000.000 đồng, đã thu lợi bất chính với số tiền 3.002.400 đồng.
  • Lần thứ 3: Ngày 19/03/2021, L cho bà K1, K và D1 vay số tiền 18.0000.000 đồng, đã thu lợi bất chính với số tiền 39.312.000 đồng.
  • Lần thứ 4: Ngày 19/04/2021, L cho bà K1, K và D1 vay số tiền 20.0000.000 đồng, đã thu lợi bất chính với số tiền 47.028.000 đồng.
  • Lần thứ 5: Ngày 23/4/2021, L cho bà K1, K và D1 vay số tiền 15.000.000 đồng, đã thu lợi bất chính với số tiền 29.268.000 đồng.
  • Lần thứ 6: Ngày 25/04/2021, L cho bà K1, K và D1 vay số tiền 34.000.000 đồng, đã thu lợi bất chính với số tiền 66.340.800 đồng.
  • Lần thứ 7: Ngày 19/03/2022, L cho bà K1, K và D1 vay số tiền 9.000.000 đồng, đã thu lợi bất chính với số tiền 8.404.200 đồng.

Tổng cộng số tiền mà Lương Yến L đã thu lợi bất chính từ việc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự sau khi đã trừ lãi suất được pháp luật quy định là 195.023.400 đồng.

Như vậy, hành vi của bị cáo Lương Yến L đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét các bị cáo là người trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết hành vi sử dụng thủ đoạn uy hiếp tinh thần đối với người khác nhằm chiếm đoạt tài sản và hành vi cho vay trong giao dịch dân sự với lãi suất vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định trong Bộ luật dân sự cho phép là vi phạm pháp luật, nhưng vì tư lợi cá nhân mà các bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Xét đối với hành vi cưỡng đoạt tài sản là có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, trong vụ án này bị cáo L là người khởi xướng và kêu bị cáo D là người làm công cùng đi với bị cáo L để đến đe doa, uy hiếp tinh thần của các bị hại nhằm mục đích đòi tiền lãi và nợ vay tiền, ép buộc các bị hại phải trả tiền cho bị cáo L. Bị cáo D là đồng phạm giúp sức tích cực, đến đe dọa và gọi điện thoại, nhắn tin đe dọa các bị hại để gây áp lực buộc các bị hại trả tiền cho bị cáo L.

8

Đối với hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự chỉ có bị cáo L thực hiện, bị cáo D không biết và không có tham gia.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ và xâm phạm đến quy định của Nhà nước về hoạt động tín dụng gây thiệt hại cho lợi ích của người đi vay; gây mất trật tự xã hội ở địa phương. Do đó, cần phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo; nhằm mục đích giáo dục các bị cáo, bên cạnh đó có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

  1. [3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo D phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo L phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  2. [4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; phạm tội nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, mới phạm tội lần đầu. Riêng bị cáo L là người dân tộc H1, có trình độ học vấn thấp. Do đó, cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
  3. [5] Về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Căn cứ Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định để cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội. Đồng thời xem xét tổng hợp hình phạt cả hai tội để buộc bị cáo L phải chấp hành hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  4. [6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo L phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” nhằm mục đích hưởng lợi nên Hội đồng xét xử cần thiết xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo L theo quy định tại Khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  5. [7] Về khoản tiền thu lợi bất chính và tiền liên quan đến việc phạm tội:

    Xét số tiền bị cáo Lương Yến L đã được hưởng lợi từ việc thu tiền lãi của người vay theo quy định (tương ứng 20%/năm) là 26.576.600 đồng, tuy không căn cứ số tiền này để xem xét trách nhiệm hình sự về khoản thu lợi bất chính nhưng đây là tiền có được từ việc thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử cần buộc bị cáo nộp lại số tiền nêu trên để tịch thu sung ngân sách nhà nước.

    Xét số tiền mà bị cáo Lương Yến L dùng để cho vay là 125.000.000 đồng nhưng các người vay gồm bà K1, K và D1 đã trả lại cho bị cáo 29.000.000 đồng, đây là tiền dùng vào việc phạm tội nên cần buộc bị cáo L phải nộp lại số tiền

9

29.000.000 đồng để sung ngân sách nhà nước. Như cậy, tổng số tiền buộc bị cáo L nộp lại để sung ngân sách nhà nước là 29.000.000 đồng + 26.576.600 đồng = 55.576.600 đồng. Còn lại số tiền 96.000.000 đồng người vay là các bà K1, K và D1 chưa trả cho bị cáo L, đây là số tiền người phạm tội dùng để cho vay nên H2 đồng xét xử buộc người vay có trách nhiệm nộp lại số tiền 96.000.000 đồng để sung ngân sách nhà nước.

  1. [8] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
  2. [9] Đối với các lần bị cáo L cho bà K1, K và D1 vay tiền, việc quy định về lãi suất, giấy tờ sổ sách là do một mình L thực hiện và quản lý, D không biết, không tham gia nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đủ cơ sở xử lý đối với D về hành vi “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” với vai trò đồng phạm.

    Đối với hành vi bị cáo L dùng nón bảo hiểm đánh bà K tại địa chỉ số A T, Phường D, Quận A vào ngày 25/12/2023, do thương tích nhẹ, hiện đã bình phục nên bà K từ chối giám định thương tích và không yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự và cũng không yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với bị cáo L. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không đủ cơ sở xử lý bị cáo L về hành vi “Cố ý gây thương tích".

  3. [10] Về xử lý vật chứng:

    Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu S Z Flip 3 5G, số Imeil: 354949613523554, số Imei2: 356767493523553; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A04S, số Imeil: 350246956897842, số Imei2: 353931246897846 là tài sản cá nhân của các bị cáo, sử dụng vào việc phạm nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu sung ngân sách nhà nước.

    Xét 01 (một) xe mô tô Honda Vision, biển số 59K2-152.46, số khung: JF66E0244932, số máy: RLHJF5810GY244899 do bị cáo Lương Yến L đứng tên chủ sở hữu, không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bị cáo L.

    Xét số tiền 971.200.000 đồng (Chín trăm bảy mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng), trong đó có 2.500.000 đồng là tiền của các bị hại Phùng Yến K1, Phùng Yến K và Tăng Tú D1 mà các bị cáo đã chiếm đoạt và bị Cơ quan điều tra bắt quả tang thu giữ nên Hội đồng xét xử trả lại cho các bị hại Khôn, K và D1. Còn lại số tiền 968.700.000 đồng là tài sản cá nhân của bị cáo L, không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bị cáo L nhưng giao cho Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

10

  1. [11] Về trách nhiệm dân sự:

    Xét số tiền thu lợi bất chính từ việc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (sau khi đã trừ lãi suất được pháp luật quy định) là 195.023.400 đồng mà bị cáo L thực tế đã nhận từ người vay. Do các người vay là bà K1, K và D1 vay sử dụng vào mục đích cá nhân, không sử dụng vào mục đích trái pháp luật nên Hội đồng xét xử buộc bị cáo L có trách trả lại cho người vay gồm các bà K1, K và D1 số tiền nêu trên.

  2. [12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 170; Khoản 2, Khoản 3 Điều 201; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Xử phạt bị cáo Lương Yến L 01 (một) năm 01 (một) tháng tù về tội về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” và 07 (bảy) tháng tù về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Tổng hợp hình phạt chung cả hai tội buộc bị cáo Lương Yến L phải chấp hành là 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17 tháng 01 năm 2024.

Buộc bị cáo Lương Yến L nộp phạt bổ sung số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.

Căn cứ Khoản 1 Điều 170; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Vũ Đình D 01 (một) năm tù về tội: “Cưỡng đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 18 tháng 01 năm 2024.

Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a Khoản 2, điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu S Z Flip 3 5G, số Imeil: 354949613523554, số Imei2: 356767493523553; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A04S, số Imeil: 350246956897842, số I: 353931246897846.

11

Trả lại cho bị cáo Lương Yến L: 01 (một) xe mô tô Honda Vision, biển số 59K2-152.46, số khung: JF66E0244932, số máy: RLHJF5810GY244899.

Trả lại cho bị cáo Lương Yến L số tiền 968.700.000 đồng (Chín trăm sáu mươi tám triệu bảy trăm nghìn đồng) nhưng giao cho Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

Trả lại cho các bà Phùng Yến K1, Phùng Yến K và Tăng Tú D1 số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Buộc bị cáo Lương Yến L nộp lại số tiền 55.576.600 đồng (Năm mươi lăm triệu năm trăm bảy mươi sáu nghìn sáu trăm đồng) để sung ngân sách nhà nước.

Buộc các bà Phùng Yến K1, Phùng Yến K và Tăng Tú D1 nộp lại số tiền 96.000.000 đồng (Chín mươi sáu triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.

Buộc bị cáo Lương Yến L có trách nhiệm hoàn trả lại cho các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phùng Yến K1, Phùng Yến K và Tăng Tú D1 số tiền 195.023.400 đồng (Một trăm chín mươi lăm triệu không trăm hai mươi ba nghìn bốn trăm đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phùng Yến K1, Phùng Yến K và Tăng Tú D1 có đơn yêu cầu thi hành án mà bị cáo L không thanh toán khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng bị cáo L còn phải chịu thêm khoản tiền lãi chậm trả theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 trên số tiền mà bị cáo L phải thi hành.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh Giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.9061559.00000 của Công an Q tại Kho bạc Nhà nước Q1, do Nguyễn Hoàng M nộp vào ngày 25/6/2024).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Mỗi bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9

12

thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân Tp.HCM;
  • - Sở Tư pháp TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5;
  • - Bộ phận THAHS Tòa án Quận 5;
  • - Phòng PV 06 – Công an Tp.HCM;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thanh Tiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2024/HS-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cưỡng đoạt tài sản và cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 103/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản và Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lương Yến L và đồng phạm-Cưỡng đoạt tài sản, Cho vay năng lãi trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger