Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KẾ SÁCH

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 19 – 7 – 2024

V/v Ly hôn và tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vinh Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Tăng Thị Bạch Vân.

Ông Trần Hoàng Bảy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hiến-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lâm Bích Ngọc-Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 150/2024/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 6 năm 2024, về việc Ly hôn và tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 262/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 20 tháng 6 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 478/TB-TA, ngày 07 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Kim H, sinh ngày 06/4/1995, địa chỉ: Ấp Q, xã T, huyện V, TP Cần Thơ.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Bảo T, sinh ngày 30/01/1999, địa chỉ: Ấp H, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo Đơn khởi kiện ngày 24/5/2024, Tờ tường trình ngày 04/6/2024, Biên bản hòa giải ngày 12/6/2024 và các tài liệu, chứng cứ khác trong quá trình giải quyết vụ án.

Nguyên đơn bà Ngô Thị Kim H trình bày:

Vào năm 2023, bà và ông Nguyễn Bảo T tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng số 92, ngày 18/9/2023. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 01 năm, sinh được 01 con chung tên Nguyễn Thành N, sinh ngày 17/10/2023, hiện đang sống với mẹ.

Đến đầu năm 2024, do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, kinh tế gia đình không ổn định, vợ chồng không có tiếng nói chung, nên thường xuyên cãi vã. Vì vậy, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh ngày càng trầm trọng, cha mẹ hai bên đã dàng xếp nhiều lần, nhưng không mang lại kết quả, nên bà đã đem con về nhà cha, mẹ ruột sinh sống. Bà không thể chung sống với ông T được nữa.

Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết những việc như sau:

  • - Về hôn nhân: Bà xin được ly hôn với ông Nguyễn Bảo T.
  • - Về con chung: Bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N đến tuổi trưởng thành, bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng không, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Bảo T trình bày:

Ông và bà Ngô Thị Kim H quen biết nhau, có tình cảm và được gia đình hai bên tổ chức đám cưới vào năm 2022. Đến năm 2023, vợ chồng đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 01 người con chung tên là Nguyễn Thành N, sinh ngày 17/10/2023, hiện nay đang sống chung với mẹ.

Thời gian đầu, vợ chồng sống chung rất hạnh phúc. Tuy nhiên, gần đây xảy ra bất đồng quan điểm sống, nên thường xuyên cãi vã, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn tiếng nói chung. Trong thời gian chung sống, vợ ông luôn luôn kỳ thị, xa lánh người em gái ruột bị nhiễm chất độc màu da cam, bà H không cho em gái ông lại gần con, và thường xuyên đòi đánh đập chấn nước em gái ông, ông đã có nhiều lần khuyên nhủ, nhưng bà H không thay đổi, vẫn cứ kỳ thị em gái ông, nên xét về mặt đạo đức, thì bà H không đảm bảo được để giáo dục tốt cho con ông sau này.

Mâu thuẫn đỉnh điểm vào ngày 19/5/2024, bà H về nhà và bắt con đi về nhà ở với bà H tại Cần Thơ. Dù trước đó, từ khi mới sinh con ra, mẹ ruột của ông là người chăm sóc trực tiếp cho con Nguyễn Thành N. Con ông từ khi mới sinh ra ở chung với bà nội nhiều hơn ở với mẹ.

Ngoài ra, ông còn có công việc làm vườn tại nhà với 15 công đất trồng vú sữa, bưởi cho thu nhập khoảng 230.000.000 đồng/năm, nên ông hoàn toàn có đủ điều kiện để nuôi con đến đủ 18 tuổi. Nơi ở của ông hiện tại là khu vực đang phát triển, đường giao thông thuận tiện từ nhà đến trường học chỉ khoảng 500 mét, đến chợ khoảng 01km, nên đáp ứng được tốt mọi nhu cầu về quyền lợi mọi mặt cho con ông. Còn nhà của bà H trong lộ nhỏ, đi đâu cũng phải qua phà, nếu nửa đêm con ông bị bệnh, mà phà không đưa thì sẽ rất bất tiện.

Hơn nữa, bà H không có công việc ổn định, cha, mẹ bà H cũng không có đất đai, tài sản gì để đảm bảo nuôi con ông. Ba ruột bà H là người uống rượu ghiền, mỗi khi uống ruột, mẹ vợ ông lại thường xuyên gây gỗ, chửi thề, nên môi trường gia đình của vợ ông sẽ ảnh hưởng rất xấu đến việc phát triển sau này của con ông. Ngoài ra, bà H và gia đình bà H không chú trọng đến việc học hành của con cháu, nên ông e rằng việc học hành và sự phát của con ông sẽ bị thiệt thòi, nếu giao con cho bà H nuôi dưỡng.

Trước yêu cầu của bà Ngô Thị Kim H, ông có ý kiến như sau:

  • -Về hôn nhân: Ông đồng ý ly hôn với bà Ngô Thị Kim H.
  • -Về con chung: Ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thành N, sinh ngày 17/10/2023, cho đến khi con đủ 18 tuổi, ông không yêu cầu cấp dưỡng.
  • Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách cho rằng việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa, cũng như việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Tại phiên tòa, nguyên đơn không rút lại đơn khởi kiện, các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Kim H và ông Nguyễn Bảo T tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn và tuân thủ quy định tại các điều 8 và 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên quan hệ hôn nhân của ông, bà là hợp pháp.

[2] Xét về tình trạng hôn nhân, thấy rằng: Quan hệ hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên. Trong thời kỳ hôn nhân, bà H và ông T có nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống, vợ chồng không còn thương yêu, chăm sóc lẫn nhau, không hạnh phúc. Nên đã sống ly thân từ đầu năm 2024, đến thời điểm này, cả bà H và ông T cũng không có một biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng mà vẫn tiếp tục sống ly thân và bỏ mặc nhau. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; hơn nữa, hai người cũng đồng ý ly hôn với nhau. Do đó căn cứ quy định Điều 55 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà H và ông T.

[3] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà H và ông T có một người con chung tên là Nguyễn Thành N, sinh ngày 17/10/2023, hiện đang sống chung với bà H. Cả bà H và ông T đều yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung này.

[4] Theo quy định tại khoản 1 Điều 71, các khoản 1, 2 Điều 81, các điều 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì cha và mẹ đều có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên. Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Nếu không thỏa thuận được người trực tiếp nuôi con thì căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, Tòa án quyết định giao cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi dưỡng cũng có quyền thăm nom con sau khi ly hôn.

[6] Tại thời điểm xét xử sơ thẩm (ngày 19/7/2024), cháu Nguyễn Duy A dưới 36 tháng tuổi. Theo khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Con dưới 36 tháng tuổi giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp mẹ không có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Xét thấy, người con chung này từ nhỏ đã được người mẹ chăm sóc nuôi dưỡng tốt, cho nên phải giao cho người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng là hợp lý, tranh thay đổi môi trường sống ổn định của trẻ nhỏ. Nếu sau này người mẹ nuôi dưỡng không tốt thì người cha có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H, giao cháu Nguyễn Thành N, cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Dành quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục người con chung này cho bà T, không ai được ngăn cản.

[6] Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà H đối với ông T.

[7] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016; Buộc bà H và ông T mỗi người phải chịu 75.000 đồng án phí ly hôn.

[9] Đề nghị của Kiểm sát viên về việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn, theo như nhận định nêu trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 55, các điều 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016; Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Ngô Thị Kim H với ông Nguyễn Bảo T.
  2. Về con chung: Giao cho bà Ngô Thị Kim H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thành N, sinh ngày 17/10/2023, đến đủ 18 tuổi; Ông T được quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục người con chung này, không ai được ngăn cản. Trường hợp bà H chăm sóc nuôi dưỡng không tốt thì ông T có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà H đối với ông T.
  4. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  5. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà H và ông T mỗi người phải chịu phải chịu 75.000 đồng án phí ly hôn; Bà H được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005410, ngày 03/6/2024, của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Kế Sách. Như vậy, bà H đã nộp xong án phí sơ thẩm và được nhận lại số tiền chênh lệch 225.000 đồng.
  6. Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Kế Sách;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADSH Kế Sách (khi đã có hiệu lực);
  • - Uỷ ban nhân dân xã Ba Trinh;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Vinh T1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2024/HNGĐ-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn và tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 103/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn và nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger