|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 103/2023/HNGĐ-ST Ngày: 17/11/2023 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đinh Văn Tân
- Bà Quách Thị Tình
Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 138/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
Chị Trương Thị M; Sinh năm: 1993
Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Có mặt tại phiên tòa.
2. Bị đơn:
Anh Quách Văn T; Sinh năm: 1991
Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 09/10/2023, chị Trương Thị M trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Quách Văn T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa ngày 19/6/2013. Sau khi kết hôn chỉ hòa thuận được 02 năm thì mâu thuẫn trầm trọng, anh T không chịu khó làm ăn, chăm lo cho gia đình mà chỉ biết chơi bời bạn bè và đã sa vào tệ nạn ma túy. Chị đã nhiều lần khuyên giải nhưng anh T không thay đổi mà còn đánh đập chị. Anh T còn thường xuyên trốn sang Trung Quốc để đi làm trái phép và từng bị xử phạt hành chính cũng như xử phạt tù về tội “Vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh”. Nay chị xác định tình cảm với anh T không còn, không thể sống chung được nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Quách Thị Anh T, sinh ngày 17/01/2014. Ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị mỗi tháng là 1.000.000đ (Một triệu đồng) cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi.
Về tài sản: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị M xin thay đổi yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Quách Thị Anh T và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Tại bản tự khai ngày 23/10/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn là anh Quách Văn T trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Trương Thị M kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa ngày 19/6/2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng hòa thuận bình thường đến năm 2017 thì sảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, không cùng chung quan điểm sống nên luôn sảy ra bất đồng. Trong khi đó, công việc mỗi người một nơi thường xuyên phải xa nhau nên tình cảm vợ chồng phai nhạt dần. Từ năm 2018 vợ chồng chính thức sống ly thân, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay chị M yêu cầu ly hôn với anh, anh xét thấy tình cảm vợ chồng cũng không thể níu kéo được nữa nên anh đồng ý ly hôn với chị M.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Quách Thị Anh T, sinh ngày 27/01/2014. Ly hôn, anh T yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.
Về tài sản: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của các đương sự trong vụ án. Từ giai đoạn thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cũng như các thành viên của Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là HĐXX) và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (Sau đây viết tắt là BLTTDS). Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của BLTTDS.
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình. Về hôn nhân: Xử cho chị Trương Thị M và anh Quách Văn T được ly hôn; Về con chung: Giao cháu Quách Thị Anh T, sinh ngày 27/01/2014 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1]. Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình có con chưa thành niên và trong quá trình giải quyết vụ án, do các bên đương sự chưa thống nhất được các vấn đề tranh chấp trong vụ án nên Tòa án đã tiến hành xác minh để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo khoản 3 Điều 208 BLTTDS và đã thông báo kết quả thu thập tài liệu chứng cứ cho các bên đương sự cũng nhưng VKS được biết.
[2]. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ cho các bên đương sự, nhưng anh T vắng mặt nên Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vắng mặt anh T và đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ cho anh T theo khoản 3 Điều 210 BLTTDS.
[3]. Nguyên đơn là chị Trương Thị M có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 BLTTDS.
[4]. Về hôn nhân: Chị Trương Thị M và anh Quách Văn T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa ngày 19/6/2013 và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn nhưng đến cuối năm 2017 thì sảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, không cùng chung quan điểm sống nên thường xuyên sảy ra cãi cọ, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Thêm vào đó, do điều kiện công việc thường xuyên phải xa nhau nên tình cảm vợ chồng phai nhạt dần. Hiện tại, chị M và anh T đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau nữa. Việc này, cả chị M và anh T đều thừa nhận và cũng phù hợp với nội dung mà Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương. Nay cả chị M và anh T đều xác định tình cảm vợ chồng nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh, chị được ly hôn. HĐXX nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Trương Thị M và anh Quách Văn T được ly hôn.
[5]. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung. Ly hôn, cả chị M và anh T đều yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Xét thấy, yêu cầu của chị M và anh T đều chính đáng. Tuy nhiên, bản thân anh T thường xuyên đi làm ăn xa nhà, nhiều lần sang Trung Quốc để đi làm trái phép, đã từng bị công an huyện Thạch Thành xử phạt hành chính và bị Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành xử phạt tù về tội “Vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh”, đến nay chưa được xóa án tích. Nếu như trực tiếp nuôi con sẽ ảnh hưởng đến việc trực tiếp chăm sóc con nhỏ. Mặt khác, cháu Anh T là con gái, ở với mẹ sẽ phù hợp hơn trong việc chăm sóc cũng như về mặt tình cảm và giới tính. Do đó, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của chị M, giao cháu Anh T cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị M.
[6]. Về tài sản: Chị M và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
[7]. Về án phí: Chị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 BLTTDS; Điều 6; Khoản 1 Điều 24; Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Về hôn nhân: Xử cho chị Trương Thị M và anh Quách Văn T được ly hôn.
- Về con chung: Giao cháu Quách Thị Anh T, sinh ngày 27/01/2014 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị M. Anh T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Trương Thị M phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành theo biên lai số AA/2021/0008142 ngày 10/10/2023. Chị M đã nộp đủ tiền án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt chị Trương Thị M và anh Quách Văn T. Chị M và anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Cúc |
Bản án số 103/2023/HNGĐ-ST ngày 17/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 103/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử cho ly hôn
