TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 103/2024/HS-PT Ngày: 17/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng;
- Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Hữu;
- Bà Tôn Thị Thanh Thuý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Bích Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thuý Ngà - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 14 và 17/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 98/2024/TLPT-HS ngày 16/8/2024 đối với bị cáo Bùi Thị Thúy N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2024/HS-ST ngày 12/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị cáo có kháng cáo: Bùi Thị Thúy N, sinh ngày 22/02/1990; nơi sinh: Tại huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: Ấp X, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Đ, sinh năm 1962 và bà Phan Thị Ả, sinh năm 1966; có chồng tên Trần Huy H, sinh năm 1976; có ba người con lớn nhất sinh năm 2012 và nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/3/2024 cho đến nay (có mặt).
- Những người dưới đây không liên quan đến kháng cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập gồm: Bị hại bà Trần Thị Kim A; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Kim H1; Người làm chứng ông Bùi Văn Đ, bà Phan Thị Ả.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 45 phút ngày 12/01/2024, Trần Thị Kim A, đang ngồi trước nhà cùng với mẹ là bà Lê Kim H1 thì thấy con chó của mình chạy qua nhà của bị cáo rượt cắn gà nên bà Kim A đi tìm. Một lúc sau, bà Lê Kim H1 thấy con chó chạy về nhà nên kêu Kim A về. Lúc này, bị cáo đang trồng rau ngoài lộ đal trước nhà nói “con chó bà qua đây cắn gà, cắn thỏ nhà tôi hoài sao không buộc lại đi, trước giờ hai gia đình không nói chuyện với nhau mà để qua hoài”. Kim A đi từ nhà ông Tám B đến trước hàng rào nhà bị cáo nghe thấy nên chửi bị cáo, thấy vậy bị cáo chửi lại thì xảy ra xô xát đánh nhau. Trong lúc giằng co đánh nhau, bị cáo nắm tóc và kéo đầu Kim A xuống, dùng cây dao trồng rau đang cầm trên tay chém 02 (hai) cái trúng vào vùng đầu của Kim A. Lúc này, Kim A vẫn tiếp tục nắm tóc và đánh bị cáo nên bị cáo cầm dao chém cái thứ ba thì bị Kim A nắm cổ tay nên không chém được. Khi cả hai đang tiếp tục giằng co thì bà Lê Kim H1 chạy đến nắm đầu bị cáo giật ra. Lúc này, ông Bùi Văn Đ, và bà Phan Thị Ả (là cha và mẹ của bị cáo) nhìn thấy nên chạy ra can ngăn. Sau đó, Kim A được người thân đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh S để điều trị.
Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 69/KLTTCT-TTPYST ngày 16/02/2024 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh S, kết luận:
- Sẹo vùng thái dương trái, kích thước trung bình, căn cứ vào Bảng 1, C 8, Mục I.2, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 02% (Hai phần trăm).
- Sẹo vùng chẩm trái, kích thước trung bình, nứt bản sọ ngoài vùng đỉnh trái d=19mm x 5mm, không thấy máu tụ nội sọ, chưa ghi nhận dấu hiệu thần kinh khu trú, căn cứ vào Bảng 1, C 8, Mục I.2, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 02% (Hai phần trăm), căn cứ vào Bản G, C, Mục I.1.1, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 07% (Bảy phần trăm)
- Bề mặt bờ các vết sẹo trên sắc - gọn.
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, xác định tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể của Trần Thị Kim A tại thời điểm giám định là: 11% (Mười một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Kết luận khác:
- T thường vùng đầu là vùng nguy hiểm tới tính mạng; các tổn thương trên đều có khả năng gây nguy hiểm đến tính mạng.
- Tổn thương có đặc điểm do vật có cạnh sắc gây nên.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2024/HS-ST ngày 12/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng quyết định:
- Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 5; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Thúy N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Xử phạt bị cáo Bùi Thị Thúy N 02 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo chấp hành án.
- Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định pháp luật.
* Ngày 25/7/2024, bị cáo Bùi Thị Thúy N kháng cáo xin giảm hình phạt.
* Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Thị Thúy N giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt, do bị cáo bị bệnh trầm cảm sau sinh, gia đình thuộc diện khó khăn, chồng bị cáo đã bỏ đi từ lâu để lại 03 con còn nhỏ cho bị cáo nuôi dưỡng, bị cáo đã khắc phục trước cho bị hại Kim A số tiền 15.000.000 đồng, sau khi xét xử thì bị cáo tiếp tục nộp bồi thường số tiền 14.249.798 đồng theo quyết định của án sơ thẩm, con còn nhỏ, cha mẹ lớn tuổi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021), áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về giảm hình phạt cho bị cáo từ 03 đến 06 tháng tù.
Nói lời sau cùng tại phiên toà: Bị cáo xin được giảm hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét Đơn kháng cáo của bị cáo Bùi Thị Thúy N lập và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm vào ngày 25/7/2024 là đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định tại các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021). Do đó, căn cứ vào Điều 345 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Vào khoảng 15 giờ 45 phút ngày 12 tháng 01 năm 2024, tại lộ đal trước nhà của bị cáo Bùi Thị Thúy N thuộc ấp X, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Trong lúc cự cải rồi xô xát đánh nhau về việc con chó của Trần Thị Kim A cắn gà, thỏ của bị cáo N, thì bị cáo N nắm tóc và kéo đầu bà Kim A xuống rồi dùng cây dao trồng rau đang cầm trên tay chém 02 dao trúng vào vùng đầu của bà Kim A gây nên thương tích, thì được can ngăn và được người thân đưa bà Kim A đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh S điều trị. Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 69/KLTTCT-TTPYST ngày 16/02/2024 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh S, kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, xác định tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể của Trần Thị Kim A tại thời điểm giám định là: 11%. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận bị cáo Bùi Thị Thúy N phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Bùi Thị Thúy N về việc xin giảm hình phạt, Hội đồng xét xử nhận thấy: Khi lượng hình phạt đối với bị cáo thì cấp sơ thẩm xác định bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện nộp khắc phục trước cho bị hại với số tiền 15.000.000 đồng; ông nội của bị cáo là ông Bùi Văn H2 là người có công với cách mạng được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt và bị cáo cung cấp được Biên lai thu tiền số 0000309 ngày 25/7/2024 của Chi cục Thi hành án huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng về việc bị cáo đã nộp số tiền 14.279.798 đồng để bồi thường xong phần trách nhiệm dân sự theo quyết định của bản án sơ thẩm, cho thấy bị cáo đã thật sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo là thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Do đó, kháng cáo của bị cáo về việc xin giảm hình phạt là có căn cứ chấp nhận.
[4] Từ những nhận định phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021), chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.
[6] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b khoản 1, 2 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021).
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Thị Thúy N về việc xin giảm hình phạt.
Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 24/2024/HS-ST ngày 12/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. - Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Bùi Thị Thúy N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. - Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021); điểm d khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Bùi Thị Thúy N không phải chịu án phí phúc thẩm. - Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Lê Vũ Huy Hoàng |
Bản án số 103/2024/HS-PT ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 103/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo giảm hình phạt
